Thuở bé, mỗi lần về quê, tôi luôn chạy thật nhanh qua chiếc cổng gỗ cũ kỹ ùa vào con ngõ rợp bóng cau. Bao năm tháng đã qua, cảm giác mát lành ấy đến giờ vẫn còn nguyên vẹn. Dưới cái nắng chói chang, những tàu cau vẫn vươn lên xanh biếc, xào xạc đón gió. Những bông hoa bé xíu bung nở trắng ngần, kết thành từng chùm nép mình sau bẹ lá. Những đêm hè, cả lối ngõ, khoảng sân như được ướp trong mùi hương ngan ngát. Hương cau không nồng nàn mà thanh mát, mỏng nhẹ như sương khói, lặng lẽ, chầm chậm lan ra khắp không gian.
Có những buổi sớm tinh mơ, khi tiếng chim sâu lích rích đánh thức cả khu vườn, bọn trẻ trong xóm đã ríu rít trước ngõ nhà bà tôi, kéo nhau ra gốc cau, ngửa cổ lên đứng ngóng. Đứa nào cũng hồi hộp mong chờ mo cau rụng. Khi tàu cau già buông mình theo gió vừa chạm đất là cả đám ùa tới, tranh nhau lấy. Chỉ cần buộc thêm sợi dây chuối là chúng tôi đã có ngay một chiếc “xe”, kéo nhau chạy khắp sân gạch, chở theo tiếng cười giòn tan, vang cả một góc quê yên ả.
Mo cau đâu chỉ là món quà dành cho tuổi thơ quê nghèo, mang đến niềm vui bình dị và trong trẻo. Dưới đôi tay khéo léo của ông bà ngoại, nó còn trở thành những vật dụng thân thương trong những tháng năm còn nhiều thiếu thốn. Ông tôi thường tỉ mẩn ép phẳng mo cau, làm thành những chiếc quạt mộc mạc, giúp xua tan cái nóng trưa hè oi ả. Bà dùng mo cau nắm cơm cho các dì mang đi học trường sư phạm mỗi cuối tuần. Những nắm cơm trắng ngần, dẻo thơm mùi gạo mới, được ôm trọn trong màu vàng ngà của mo cau, mang lên trường mở ra vẫn còn ấm nóng. Sau này, dì tôi vẫn nói rằng, có lẽ chẳng có nắm cơm nào ngon hơn thế nữa, bởi nó gói ghém biết bao tình thương và sự tảo tần của mẹ.
Rồi mỗi độ thu sang, hàng cau bắt đầu trĩu nặng những buồng quả xanh óng. Những sớm thu se sắt hơi may, bà tôi thường ngồi bên hiên nhà bổ cau, têm trầu, mời mấy bà hàng xóm sang ăn và trò chuyện. Đông về, khi vụ lúa tháng Mười bắt đầu vào mùa gặt rộ cũng là lúc cau chín vàng, ánh lên màu mật ngọt trong cái nắng hanh hao. Mỗi khi gió bấc thổi qua, vài quả già lại lộp bộp rơi xuống nền đất ẩm.
Ông tôi thường cặm cụi nhặt từng quả, phơi khô rồi ươm vào những bầu đất nhỏ xinh xếp vào góc vườn. Ngày ngày, ông tưới nước, ngắm từng mầm xanh nhú lên như đón chờ một niềm vui mới. Đợi đến mùa Xuân, khi cây cau non cứng cáp, ông mang trồng thay thế vào chỗ những cây già cỗi, sâu bệnh hoặc bị gãy đổ sau những trận bão. Cứ thế, đời cau nối tiếp đời cau. Và hàng cau trước ngõ chẳng bao giờ vắng màu xanh…
Mãi sau này lớn lên, tôi mới hiểu, ông bà không chỉ trồng cau, mà đang gìn giữ những kỷ niệm, những điều tốt đẹp. Mỗi cây cau là một lời nhắn gửi về sự bền bỉ. Mỗi mầm cau non nhú lên là một niềm hi vọng về sự sống mới được tiếp nối. “Chuối vườn sau, cau vườn trước”. Nếp nhà xưa chỉ bình dị vậy thôi mà lúc nào cũng chan chứa yêu thương.
Giờ đây, ông bà ngoại đã về miền mây trắng xa xôi. Hàng cau lối ngõ vẫn được chú, dì tôi chăm sóc cẩn thận. Những thân cau vẫn vươn cao giữa khoảng trời quê, kiêu hãnh đón nắng mưa, sương gió. Mỗi lần về quê, tôi vẫn thích đi thật chậm dưới hàng cau cũ. Để nghe hương hoa thanh mát thoảng qua trong gió. Để nhặt quả cau già vừa rơi xuống. Để đặt bàn tay lên thân cau thô ráp mà ngỡ như đang chạm vào đôi tay thô sần, ấm áp của ông bà. Để trào dâng một niềm biết ơn quê nhà yêu dấu đã giữ hộ tôi những ký ức tuổi thơ không bao giờ cũ.