Mẹ tôi kể rằng, thời chống Mỹ, bà Nhạn là thanh niên xung phong. Sau khi chiến tranh kết thúc, bà trở về quê, sửa sang ngôi nhà cũ nơi bến sông do cha mẹ để lại, sống cuộc đời lặng lẽ với nghề chở đò đưa khách qua sông...
Bà Nhạn rất yêu cỏ cây, hoa lá. Dọc con đường nhỏ xuống bến sông, bà tẩn mẩn, lọ mọ trồng những bụi hoa tầm xuân. Còn nơi bãi bồi hồng mịn phù sa sát mép sông, một bên là những khóm phù dung, một bên là những luống hoa cúc, rau xanh theo mùa. Người làng quý bà bởi tính tình hiền lành, chịu thương chịu khó. Còn bọn trẻ chúng tôi thì khỏi phải nói, mỗi buổi nghỉ học đều rủ nhau ra bến sông chơi, vòi vĩnh bà cho lên đò đi dọc bờ sông khám phá thiên nhiên.
Mỗi độ tháng Giêng, bến sông nở hồng những đóa tầm xuân. Cuối thu thì rực rỡ sắc trắng, hồng, đỏ, tím của hoa phù dung chuyển màu kỳ ảo theo thời gian trong ngày. Đầu Đông, những vạt cải vàng ruộm dưới cái nắng hanh hao, tỏa mùi hương dìu dịu... Không gian tươi đẹp ấy luôn có sức hấp dẫn đặc biệt với lũ trẻ. Mấy đứa con gái bọn tôi lần nào ra bến sông cũng được bà Nhạn gọi vào, lúc thì chải đầu, tết tóc gọn gàng cho từng đứa, lúc thì cho mấy cái kẹo, đưa vài mớ rau xanh bảo mang về cho mẹ. Có lần tôi hỏi, sao bà trồng nhiều hoa phù dung thế, bà chỉ cười nhẹ và bỏ lửng câu trả lời: Để nhớ… Ánh mắt bà khi đó thoảng một nỗi buồn xa xăm mà đứa trẻ vô tư như tôi chẳng thể nhận ra.
Sau này lớn lên, nghe mẹ kể, tôi mới biết, những năm tháng chiến tranh, bà và các nữ thanh niên xung phong theo đơn vị vào tuyến lửa làm đường, tải đạn, dựng lán, đào hầm, dành trọn cả tuổi thanh xuân ở chiến trường góp phần bảo vệ Tổ quốc. Trở về quê cha mẹ không còn, thì con gái đã qua. Bà ở vậy, cần mẫn làm nghề chở đò sinh sống và bắt đầu trồng những khóm phù dung. Lúc đầu chỉ vài cây nhỏ do một người khách đi đò tặng. Sau bà tự chiết cành, nhân giống ra cả một dọc dài bờ sông. Bà trồng hoa để nhớ về những năm tháng tuổi trẻ sôi nổi bên những đồng đội tuổi mười tám, đôi mươi phơi phới và nhiệt huyết, giữa lằn ranh sống - chết vẫn tràn đầy lạc quan. Bà trồng hoa còn để đợi một người trở về như lời hẹn ước…
Ngày ngày, tháng tháng, năm năm. Dòng sông vẫn êm ả, miệt mài chảy trôi, bồi đắp phù sa màu mỡ cho hoa trái đôi bờ bốn mùa xanh tốt. Mỗi cuối Thu, đầu Đông, những khóm phù dung lại bung nở những chùm hoa mỏng manh, thanh khiết. Loài hoa sớm nở tối tàn, mang vẻ đẹp rực rỡ mà ngắn ngủi.
Bẵng đi một thời gian, tôi bận mải công việc chẳng về quê. Ngang qua bến sông, theo thói quen nhìn sang, chẳng thấy cái dáng bé nhỏ của bà Nhạn, chợt cảm thấy hụt hẫng. Mẹ tôi kể, bà Nhạn mất vào một chiều cuối thu, đúng mùa hoa phù dung nở rộ. Hôm đó, trời trở gió heo may, hoa phù dung rụng xao xác bến sông. Bà ra đi thật nhẹ nhàng, gương mặt bình yên như đang ngủ…
Giờ đây, nối hai bờ sông quê tôi đã là một cây cầu vững chãi, người xe đi lại thuận lợi. Nhưng trong nỗi nhớ của người dân xóm Đê, trong câu chuyện hằng ngày, chúng tôi vẫn nhắc về bà Nhạn, về những chuyến đò của một thời khó khăn nơi bến sông thân thuộc thắm sắc phù dung.