
Nhạc sĩ Thái Cơ (1934-2004) quê ở tỉnh Thái Bình cũ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã dành nhiều tình cảm cho mảnh đất Thành Nam. Bởi, cùng nằm trong “hệ văn hóa” vùng Sơn Nam xưa, Thành Nam và quê hương ông có nhiều nét tương đồng về phong tục, đời sống và âm nhạc dân gian. Chính sự gần gũi đó đã tạo nên sợi dây gắn kết giữa người nhạc sĩ với vùng đất bên dòng sông Đào.
Từ nhỏ, Thái Cơ đã say mê những làn điệu dân ca, hò vè, hát chèo của quê hương. Khi sáng tác, ông luôn biết cách vận dụng những chất liệu dân gian quen thuộc để tạo nên ngôn ngữ âm nhạc riêng. Trong các ca khúc của ông, lời ca được trau chuốt, giàu chất thơ nhưng vẫn giữ được vẻ mộc mạc, bình dị. Có lẽ vì thế mà các tác phẩm của ông dễ đi vào lòng người nghe.
Trong số hơn 300 ca khúc sáng tác về nhiều đề tài khác nhau, Thái Cơ để lại nhiều dấu ấn với các tác phẩm như “Mùa hoa đón Bác”, “Nghe tiếng trống quê hương” “Tiếng hát hậu phương”, “Khi thành phố lên đèn”, “Rặng trâm bầu”, “Lời ru gọi cây lúa”, “Lời cây sáo trúc”... Ca khúc “Qua bến Đò Quan” ra đời năm 1974, được xem là một trong những ca khúc tiêu biểu gắn với tên tuổi ông.
Bến Đò Quan xuất hiện trong ca khúc vốn là một địa danh quen thuộc của Thành Nam xưa, là một bến trên sông Đào. Trong dân gian, nơi đây còn được gọi là Đò Chè, từng đi vào những câu ca mộc mạc:
“Cô kia thắt dải lưng xanh
Có về Nam Định với anh thì về
Nam Định có bến đò Chè...”
Từ những câu ca dân gian ấy, Thái Cơ tìm về một địa danh đã có từ lâu trong tâm thức người dân vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Ông không kể về lịch sử hình thành con sông Đào, cũng không đi sâu mô tả cảnh sắc thiên nhiên. Điều ông hướng tới là những lớp ký ức của con người gắn với bến sông ấy.
Ngay từ những câu hát mở đầu: “Bồng bềnh bồng bềnh bè ai nhẹ lướt, qua bến Đò Quan...”, người nghe đã cảm nhận được một không gian sông nước khoáng đạt và nên thơ. Trên nền cảnh sắc ấy, nhạc sĩ dẫn người nghe đi sâu vào câu chuyện của mảnh đất Thành Nam.
Bài hát được xây dựng bằng lối tự sự. Qua dòng hồi tưởng của tác giả, cuộc sống cơ cực của người lao động trong những năm tháng đất nước còn dưới ách áp bức, bóc lột hiện lên đầy xúc động: “Hỡi ai, xưa còn nhớ? Bao kiếp người tha phương đau thương dưới màn sương giá...”.
Những câu hát gợi nhớ về thân phận của những người công nhân, lao động từng phải chịu nhiều gian khổ, áp bức dưới chế độ cũ. Nỗi đau của quá khứ được thể hiện bằng lời ca chân thành, giàu cảm xúc. Đó cũng là cách Thái Cơ nói hộ lời tri ân chân thành về những đóng góp của các thế hệ vào công cuộc đấu tranh cách mạng và làm nên diện mạo của vùng đất Thành Nam hôm nay.
Sau những đoạn ca từ lắng đọng là hình ảnh của cuộc sống mới đang mở ra: “Nay thỏa ước mơ bao đời hằng mơ ước. Ta như chim trời vẫy vùng cùng đất nước. Ta như cánh buồm lộng gió vượt nẻo trùng khơi...”, “Niềm vui rộng mở, hòa cùng máy sợi máy tơ...”.
Thành Nam từ lâu được biết đến là thành phố dệt. “Qua bến Đò Quan”, hình ảnh nhà máy, tiếng máy sợi, máy tơ được đưa vào một cách tự nhiên, trở thành biểu tượng cho sức sống của vùng đất công nghiệp. Người nghe cảm nhận được niềm vui, niềm tin và khát vọng lao động, xây dựng quê hương, đất nước của những con người trong cuộc sống mới.
Một trong những nét đặc sắc của bài hát là cách tác giả khai thác chất liệu âm nhạc dân gian. Trong ca khúc, Thái Cơ sử dụng chất liệu của hát văn và một số làn điệu chèo để tạo nên giai điệu cho tác phẩm. Phần mở đầu mang nét gần gũi với điệu vỉa trong chèo cổ, kết hợp với nhịp tự do rộng mở tạo cảm giác vừa đằm thắm vừa phóng khoáng.
Những tiếng đệm như “ơ”, “dô khoan” xuất hiện trong bài hát khiến giai điệu mang đậm hơi thở dân gian Bắc Bộ. Các luyến láy mềm mại góp phần tạo nên màu sắc riêng cho tác phẩm. Chính điều đó giúp “Qua bến Đò Quan” vừa gần gũi với người nghe, vừa có sức gợi lớn về không gian văn hóa của Vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Ở phần sau của bài hát, nhịp điệu trở nên sôi nổi hơn. Tác giả sử dụng những tiết tấu dồn dập để diễn tả tâm trạng náo nức của người lao động trong cuộc sống mới: “Náo nức sóng dồi. Bến nước quê tôi. Bát ngát tiếng cười. Bến cảng đông vui...”. Những hình ảnh ấy cho thấy một Thành Nam đang chuyển mình.
Trên sông là những chuyến tàu, bè xuôi ngược. Trong nhà máy là âm thanh của lao động sản xuất. Trên bến dưới thuyền là nhịp sống sôi động của một vùng đất đang phát triển.
Trong toàn bộ tác phẩm, Thái Cơ còn sử dụng thủ pháp đối xứng, tương phản, quá khứ và hiện tại được đặt cạnh nhau để làm nổi bật giá trị của cuộc sống hôm nay. Qua đó, bài hát trở thành lời ngợi ca cuộc sống mới, ngợi ca người lao động và những đổi thay của quê hương, đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Sự lan tỏa của “Qua bến Đò Quan” còn gắn liền với giọng hát của một số nghệ sĩ như: NSND Thu Hiền, người đầu tiên trình bày ca khúc trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, NSƯT Lan Anh, ca sĩ Việt Tú... Với chất giọng dân ca trữ tình, ngọt ngào, cùng cách xử lý tinh tế ở những đoạn luyến láy, các nghệ sĩ đã góp phần đưa bài hát đến với đông đảo công chúng nhiều thế hệ.
Ngày nay, cùng với cầu Đò Quan, trên dòng sông Đào đã có thêm những cây cầu nối đôi bờ. Những dòng người và xe cộ qua lại mỗi ngày tạo nên diện mạo mới cho vùng đất Thành Nam. Trải qua thời gian, “Qua bến Đò Quan” đã vượt qua giới hạn của một tác phẩm âm nhạc thông thường để trở thành một bài hát nổi tiếng nói lên một phần chiều sâu văn hóa của vùng đất này.









