
Mai Văn Phấn sinh năm 1955 tại Kim Sơn. Ông từng tham gia quân ngũ từ năm 1975 đến năm 1981. Sau khi xuất ngũ, ông theo học Khoa Phiên dịch tại Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và có thời gian tu nghiệp tại Trường Đại học Sư phạm Maxim Gorky (Belarus). Về nước, ông công tác trong ngành Hải quan, làm phiên dịch, sống và sáng tác chủ yếu tại Hải Phòng.
Hoạt động văn nghệ của Mai Văn Phấn khá đa dạng, bao gồm: Sách dịch, tiểu luận và phê bình, thơ. Bởi vậy, người ta biết tới ông là một tác giả có bề dày tri thức, sức sáng tạo mạnh mẽ. Từ khi tham gia hoạt động văn nghệ ông liên tục sáng tác và cho ra đời các tập thơ: Giọt nắng (1992); Gọi xanh (1995); Cầu nguyện ban mai (1997); Nghi lễ nhận tên (1999); Người cùng thời (1999); Vách nước (2003); Hôm sau (2009); Và đột nhiên gió thổi (2009); Bầu trời không mái che (2010); Hoa giấu mặt (2012); Thả (2015); Lặng yên cho nước chảy (2018); Thời tái chế (2018)…
Không chỉ xuất bản trong nước, sách của ông còn chuyển ngữ ra nhiều thứ tiếng và xuất bản tại nhiều nước như: Nga, Hoa Kỳ, Anh, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Serbia, Thụy Điển… Ở trong nước, ông đã giành nhiều giải thưởng: Giải thưởng “Cuộc thi thơ” tuần báo Người Hà Nội năm 1994; Giải thưởng “Cuộc thi thơ” tuần báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) năm 1995; Giải thưởng Văn học Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Phòng) các năm 1991, 1993, 1994, 1995; Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 cho tập thơ “Bầu trời không mái che”…
Hơn thế, Mai Văn Phấn còn là một trong số ít nhà thơ Việt Nam được giới thiệu rộng rãi ra quốc tế, với 27 tập thơ xuất bản ở nước ngoài và được dịch ra 40 ngôn ngữ. Ông từng vinh dự giành giải thưởng văn học Cikada 2017 của Thụy Điển - một giải thưởng được sáng lập năm 2004 và được trao cho các nhà thơ Đông Á. Kể từ tập thơ đầu tay năm 1992 cho tới hiện tại, thơ Mai Văn Phấn thường sáng tác theo thể tự do, cảm thức thơ tân kỳ, hình ảnh thơ có phần siêu thực. Đây không phải là sự ngẫu nhiên mà là một sự lựa chọn một hệ thi pháp có chủ ý, bởi chỉ ở thể thơ tự do tác giả mới truyền tải hết những ý tưởng mới mẻ, những suy tư huyền nhiệm của trí tưởng tượng. Vì vậy, với những bạn đọc đã quen với mỹ cảm của thi pháp truyền thống, khi đọc thơ Mai Văn Phấn sẽ có cảm giác lạ lẫm, thậm chí cảm thấy khó hiểu trước những gì ông viết.
Tuy nhiên, với giới học thuật, mỗi tập thơ của Mai Văn Phấn lại chính là món quà của sự sáng tạo, là sự dấn thân không mệt mỏi trong hành trình đổi mới thi pháp thơ Việt Nam hiện đại. Cho dù có những khó khăn trong việc tiếp nhận do hệ mỹ cảm khác nhau, nhưng trên thực tế, vẫn có nhiều thi phẩm hay đến được với bạn đọc ở cả hai phía ủng hộ cũng như những người còn chưa cởi mở tiếp nhận thơ ông.
Hãy đọc những câu thơ này trong bài Thuốc đắng: “Cơn sốt thiêu con trên giàn lửa/ Cha cũng có thể thành tro nữa/ Thuốc đắng không chờ được rồi/ Giữ tay con/ Cha đổ/ Ngậm ngùi thả lòng chén vơi”… cùng những câu kết đầy sức nặng của bài thơ: “Khi lớn bằng cha bây giờ/ Đáy chén chắc còn bão tố”... mới thấy, trong thơ Việt, dù đã có nhiều bài thơ nói về tình phụ tử nhưng viết như Mai Văn Phấn thì thật mới và hiếm. Ở đây, sự tân kỳ đồng nghĩa với khả năng sáng tạo.

Trong hành trình sáng tạo, nhà thơ Mai Văn Phấn đã nỗ lực thể nghiệm ở nhiều thể thơ, trong đó có thể loại thơ ba câu. Tỷ dụ như: “Thắp hương xong/ Dựa lưng/ Vào ngôi mộ bên cạnh” (Viếng mộ ông bà); “Thắp hương cha/ Tưới xuống đất/ Thành tiếng” (Ly rượu); hay “Lắc lư nhiều hướng/ Lá nửa non/ Nửa già” (Cây ở nghĩa trang)…
Có nhiều ý kiến khác nhau về sáng tác dạng này của nhà thơ họ Mai, nhưng không thể phủ nhận ngay cả những thể thơ còn tranh cãi, Mai Văn Phấn vẫn sáng tạo nên những thi phẩm đẹp lạ lùng. Mô tả giọt sương rơi ông viết: “Những giọt sương/ Dìu nhau/ Về trái đất”. Cảm thán cho phận người đã mất, thi sĩ chạnh lòng: “Ai nỡ phơi rơm/ Lên ngôi mộ đơn sơ/ Người nằm đó cả đời lam lũ” (Vô tình). Dù những bài thơ câu chữ được dồn nén, cô lại tới mức tối giản, không thể phủ nhận những “khoảng trống tưởng tượng” thăm thẳm mà nó gợi ra phía sau câu chữ.
Những thể nghiệm của Mai Văn Phấn khiến người ta liên tưởng tới thể thơ Hai-cư (Haiku) - một thể thơ truyền thống cực ngắn của Nhật Bản. Những bài ngắn nhưng sức dư vang của nó phía sau câu chữ không hề ngắn... Và khoan hãy bàn về những giá trị mà thơ Mai Văn Phấn mang đến, chỉ riêng chuyện mỗi khi ông xuất bản tập thơ nào đều nhận sự quan tâm rất lớn từ bạn đọc cũng chứng tỏ sức hút của thơ ông. Dù vậy, ông cũng thường không mấy quan tâm đến điều đó, mà bày tỏ đại ý: Sự tranh cãi về một tác phẩm là chuyện bình thường, khi đã xuất bản, tác phẩm thuộc về bạn đọc.
Nhìn chung, thơ Mai Văn Phấn tuy phá cách về câu chữ, có xu hướng vuột thoát khỏi những quy ước của thi pháp truyền thống nhưng có thiên hướng cô đọng về câu chữ. Độ nén của chữ với nhiều tầng ngữ nghĩa cho phép người đọc có biên độ liên tưởng rộng nhưng cũng tạo nên nhiều nét nhòa về nghĩa, khiến ý tưởng gói gém trong thơ trở nên “đa thanh, phức điệu”, khó giải mã. Bài thơ “Thuốc đắng” là một ví dụ...
Đây có lẽ cũng là lý do khiến thơ Mai Văn Phấn không dành cho số đông mà thường chỉ hấp dẫn đối với những người viết chuyên nghiệp, giới học thuật. Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên từng đánh giá Mai Văn Phấn là “nhà thơ cách tân quan trọng của thơ Việt hiện đại, nhiều năm qua miệt mài tìm tòi đổi mới thơ”. Nhiều nhà nghiên cứu đồng quan điểm nhận định Mai Văn Phấn đang hướng đến một giọng thơ Việt dựa trên thẩm mỹ quan cá nhân độc lập.
Có một điểm đáng quý là dù sống xa quê, Mai Văn Phấn vẫn giữ mối liên hệ mật thiết với giới văn nghệ quê hương. Bản thân hành trình nghệ thuật của ông, những thành tựu mà ông đạt được đã khơi nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho các tác giả Ninh Bình trong hoạt động sáng tạo. Mai Văn Phấn không tuyên ngôn, không “vu đàm khoát luận”, ông cứ lặng lẽ viết, đều đều vài năm lại cho ra một cuốn sách. Im lặng và hành động cũng chính là một cách nói mạnh mẽ và sâu sắc nhất. Và một người như thế, một nhà thơ như thế có lẽ không gì khác chính là một định nghĩa về bản lĩnh nghệ thuật.









