
Rượu gì mà càng uống càng tỉnh! Những cây đàn trên ván gỗ như đang cười chế nhạo. Ông Hù tự bảo, không thể chơi với kẻ phản bội tình cảm bạn bè. Vùng đất này, con trai ông lấy đâu chẳng được vợ. Con trai cả và gái thứ của ông đã có gia đình riêng, chúng đã đẻ một lô lốc cháu, đứa nào cũng nhanh lớn như gà vịt. Ở đất này, ông vừa giỏi đàn Tính vừa giỏi thuốc nam, cứu được ngàn vạn người. Ông làu làu những câu chuyện của người Thái, hiểu cặn kẽ bộ sử thi dân gian Xống chụ xôn xao. Bố cái Thùy - lão già ấy chả là cái thá gì. Càng uống rượu vào ông càng thấy niềm tự hào lớn như dãy núi. Ông uống mãi, như thể muốn uống cạn cả dòng suối Nậm Pao. Rồi rượu làm ông gục xuống sàn gỗ.
Bố ông Hù là thương binh thời chống thực dân nhưng ông cụ không ngại cho con vào chiến trường miền nam. Ngày ấy, mảnh đất Điện Biên từng chịu bao bom cày đạn xới, những vết thương đã dần lành lại. Nhưng ở miền trung, miền nam… những vùng đất còn chìm trong khói lửa. Nhiệm vụ lúc này là của những trai tráng như Hù. Hù sẽ cùng đồng đội tập hợp ở đơn vị, sau đó vào chiến trường.
Hù thân với Mởi và Liềng từ nhỏ. Trong ba người, Liềng và Hù dành tình cảm nam nữ cho nhau. Hôm chia tay, cây cối im lặng, đôi mắt Hù đỏ hoe. Mắt Liềng cũng ầng ậc. Hù cần thêm nhuệ khí nên chỉ gợi chuyện vui, sự sum vầy như thể chỉ nay mai là hòa bình. Hù bảo Mởi, người bạn thân nhất của mình ở nhà, hãy đỡ đần Liềng lúc khó khăn, cầu mong cho Hù chân cứng đá mềm, sức khỏe dẻo dai. Mởi sinh ra đã khuyết hai ngón tay bên cánh phải nên không đi bộ đội. Lời Mởi làm Hù yên tâm ra đi…
Những trận đánh ác liệt, sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc, Hù chẳng còn thời gian viết thư gửi về hậu phương. Nhiều lần Hù bị thương nhẹ nhưng vẫn kiên cường bám trụ chiến trường. Lần đó, cả tiểu đội của Hù bị vùi trong một loạt bom, sau hơn một ngày mê man Hù tỉnh dậy. Anh bị lạc đơn vị và phải hai tháng sau mới gặp được các đồng đội. Một đồng đội bị thương trong trận đó vất vả tìm về báo cho gia đình, rằng Hù đã anh dũng hy sinh. Tháng ba năm bảy lăm, trong một trận đánh, Hù bị thương rồi được chuyển ra bắc điều trị, khi vết thương ổn thì nghe tin ta giải phóng hoàn toàn miền nam.
Anh theo cung đường quanh co về quê hương. Nhưng có chuyện nghiệt ngã là anh biết được Liềng đã thành người của Mởi, đôi bên mới tổ chức lễ ăn hỏi. Mởi đã được nhà gái nhất trí cho sang ở rể. Sao lại có thể như thế được! Đất trời chao đảo, núi đồi như đang sụp xuống suối Nậm Pao. Mẹ Hù bảo, mọi người tưởng con hy sinh, nên đã tác thành cho đôi bạn trẻ. Chiến tranh ác nghiệt quá, đã làm đảo lộn mọi thứ. Giữa niềm vui hòa bình, thống nhất, ai cũng mong được sum vầy. Còn giờ phút này, anh thấy bản thân bị chia làm đôi. Dẫu lỗi đó chẳng phải của Mởi, nhưng Hù đã sinh lòng hận, bao mùa mưa nắng vẫn không vơi.
Hôm cưới Liềng, Hù tắm trong rượu, ước mơ hy vọng vào rượu, ngật ngưỡng, rã rời. Anh muốn dìm tình yêu với vết thương lớn ấy vào li bì những trận say, nhưng càng muốn quên thì lại càng nhớ, càng hận. Không làm vỡ được mình trong một trận rượu say đến mê cuồng, Hù tỉnh dậy. Hù quyết định lấy Thào, sinh con, làm lụng, sưu tầm đàn Tính tẩu, đi tìm lời Then. Sẵn nghề gia truyền Hù phát triển nghề thuốc. Nghề thuốc cho Hù một ý nghĩ, giúp kẻ khác giảm đau đớn, bệnh tật, được sống – đó là một quyền năng.
Chuyến xe đưa Thùy cùng Được về xứ núi lúc bốn giờ sáng. Sương trùng trình bao quanh những nếp nhà sàn. Khi mùa thu treo nắng lên lưng núi, mặt rừng, Thùy lặng lẽ lên nương tra hạt, trồng rau, làm lụng. Phần ruộng mà Được đã “quy hoạch” sẽ được cải tạo lại. Những ngày đi tìm Thùy, không ai chăm sóc, giờ xơ xác. Được bàn với Thùy cùng đến nhờ bố Thùy. Ông Mởi là người hiểu bố Hù của Được, ông bắt đầu chuyện này thì cũng phải là người kết thúc chuyện này. Kết thúc bằng cách gì thì ông phải nghĩ, Được cũng nghĩ. Nhưng Được đã nghĩ sẵn cả rồi.
Được mang một cây đàn Tính đến tặng ông Mởi, coi như một cuộc ra mắt nho nhỏ. Ông Mởi mê đàn Tính, bố của Được và Được đều mê đàn Tính. Âm thanh của cây đàn Tính như sợi dây nối giữa thế giới thực tại và thế giới siêu nhiên.
Ban đầu ông Mởi không nhận. Trước Được, mặt ông tái đi như gà bị cắt tiết. Ông xấu hổ, còn Được chỉ mong ông hiểu cái bụng mình. Những mâu thuẫn của người lớn năm xưa phải được thả ra sông suối cho trôi đi.
Được biết, ông Mởi nể bố của Được về ngón đàn. Khắp vùng, chỉ ông Mởi và ông Hù cải tiến thành công bộ Tính gồm Tính cao, Tính trung, Tính đại và hình dáng đàn đẹp hơn, âm sắc chuẩn. Ông Mởi khiếm khuyết hai ngón tay, song tiếng đàn của ông vẫn thật mê đắm, đến con kiến trong lỗ cũng muốn chui ra nghe.
Hôm ấy, bà Thào đi hái thuốc về thì thấy chồng nôn đầy ra sàn, góc bếp. Bà đưa ông Hù lên giường nằm rồi dọn dẹp. Mãi vẫn không xua hết mùi. Mảnh đạn còn găm ở đầu và lưng liên tục trở chứng, làm ông đau đớn không thể tả. Con trai và bà Thào đưa ông đến bệnh viện tỉnh, ông nằm được ba hôm thì đỡ, đòi về. Ông sẽ chỉ chữa trị ở xứ núi này, lên tỉnh, chứ không đi xa. Cùng lắm là chết. Ông sợ xa những nếp nhà sàn, dáng núi. Ông nói thế làm bà Thào rơm rớm nước mắt. Bà yêu ông, chịu đựng sự dằn vặt, giày vò của chồng nhưng chẳng bao giờ than trách một lời.
Vết thương ghì xuống, làm ông Hù không còn chơi được đàn Tính. Vết thương không cho ông ngồi, giờ giúp mình còn chẳng xong huống chi cứu người. Ông cô đơn bó gối ở nhà, thiểu não nhìn chung quanh như tảng đá vô hồn. Một số người từng được ông cứu giúp, nghe ông bệnh đã đến thăm, tặng ông ít tiền, con gà, cân thịt cốt để ông vui. Ông bảo họ, mình đang như ngọn đèn dầu trước gió, mạnh thêm tí nữa là tắt. Mấy ngày vừa rồi ông nghe thấy tiếng đàn Tính, lúc khác là tiếng sáo vọng xuống từ đỉnh núi Ngào Thưa. Tiếng đàn day dứt, bổng trầm đầy tâm trạng làm ông Hù như mê mị. Ai chơi nhỉ? Ai ở vùng này có tiếng đàn hay như thế, ngoài mình và ông Mởi?
Ngày nắng đẹp, Được mang đàn ra góc sân, ngồi lên khúc gỗ lũa chơi một bài. Tiếng đàn làm từng mạch máu trong cơ thể ông Hù như giãn nở. Không hiểu sao tiếng đàn Tính của thằng con lại làm ông cảm xúc đến thế. Ông gượng dậy, đi ra chỗ con. Ông tưởng Được là người đã chơi đàn trên núi Ngào Thưa. Nhưng Được lắc đầu.
- Người chơi đàn là bác Mởi, bạn của bố.
Nghe đến ông Mởi, ông Hù khựng lại. Mặt đang vui bỗng biến sắc. Được đặt cây đàn xuống, đỡ bố ngồi vào chỗ của mình.
- Bố ạ, cuộc sống đã thay đổi và chúng con còn có tương lai nữa. Bố phải quên chuyện quá khứ đi, mẹ con là người phụ nữ tuyệt vời, bố không trân trọng mẹ mà cứ áp đặt chuyện của người lớn lên chúng con, là bố phụ bạc với mẹ đó. Và bác Mởi nữa, bác ấy cũng chẳng có lỗi. Ngày xưa, chiến tranh loạn lạc, những thông tin đúng sai về liệt sĩ, chuyện liệt sĩ về làng bản là bình thường. Bố phải hiểu điều đó thì cuộc sống mới nhẹ nhàng.
Ông Hù chỉ lắc đầu. Giờ ông đắm chìm với một vùng ký ức của riêng mình. Niềm day dứt, u hoài quá khứ, về tình yêu, tình bạn bị phản bội đã ăn vào máu. Ông không thể cào cấu, móc nó ra được. Ông làm Được bật khóc. Anh không biết phải làm gì nữa. Sao bố có thể cố chấp như thế, sao cứ mãi mang sầu tủi cho nhau.
Lại một năm nữa trôi đi, Được đổ công sức vào trang trại. Anh tiếp hết đoàn khách này đến đoàn khách khác đến thăm trang trại và đặt hàng. Anh ngày càng phát triển, còn bố càng lụi tàn. Anh mỗi lúc một đến điểm vinh quang thì bố anh càng gần đất xa trời. Ông Hù mừng vì con thành công, sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, học tập cách làm rau, rồi về quê xắn tay với nhóm thanh niên trong bản. Luồng sinh khí đang về mảnh đất này.
Lựa ngày bố vui, Được lại gần thuyết phục bố chấp nhận Thùy. Cả họ hàng bốn bên sẽ vui nếu anh thuyết phục được ông. Nhưng ông Hù dứt khoát lắc đầu. Được quỳ thụp xuống sàn mà van xin. Ông Hù ngồi trên giường, như tấm bia đá, lạnh lùng. Được khóc nấc. Thấy con khổ sở quỳ thụp, bà Thào cũng quỳ trước chồng. Chưa bao giờ bà nói gay gắt đến thế. Bà bảo chắc gì vết thương lòng của ông đã lớn bằng vết thương lòng của bà. Bà đã nhịn, đã chấp nhận như cái bóng trong cuộc đời chồng. Chẳng lẽ ông để lòng hận che đôi mắt, làm trái tim không còn chút lòng thương vợ con? Chợt ông thấy hoa mắt chóng mặt, nhà cửa chao đảo. Vợ con nhất quyết đưa ông về Hà Nội chụp chiếu, lấy thuốc, dẫu ông không muốn.
Sau ít ngày điều trị, ông đòi về với bản làng bảng lảng sương. Những cơn đau ép ông nằm giường. Biết chuyện, ông Mởi mang đàn và sáo đến. Ông không vào nhà mà ngồi ngoài sân chơi đàn, thổi sáo. Bầy chim rẽ mây về đậu trên những cành cây, luých chuých múa nhảy. Ông Hù chẳng thể dậy mà xua đuổi ông Mởi, nên buộc phải nghe tiếng đàn, lạ là, càng nghe tâm hồn ông càng dịu lại. Nó mênh mang bổng trầm như tiếng đàn trên núi vẫn vọng xuống.
Giữa chiều, con gái tụ về với ông Hù. Được mời ông Mởi vào gặp bố. Đôi mắt ông Hù mờ đục, nói chẳng ra hơi, nhưng gương mặt đã có phần thanh thản.
- Bố ạ chúng con đưa bác Mởi vào đây nói chuyện với bố. Bố hãy thoải mái, từ từ nói chuyện. Chúng con mong, sau lần gặp này cái gì đáng qua thì nên cho qua.
Lúc này, ông Hù mới biết mọi người giấu ông nhiều chuyện quá. Thì ra những năm qua, mình càng hận, càng ghét thì ông Mởi càng muốn đối xử tốt, bỏ qua cho hết mọi thứ. Ông Mởi lại thật bụng giúp cho hai con ông Hù có việc làm ổn định. Ông Hù ứa nước mắt:
- Thế sao giờ chúng mày mới nói với tao?
Mắt rơm rớm, ông Mởi trả lời thay:
- Là tôi bảo các cháu giấu ông. Tôi sợ ông biết, sẽ không nhận ân tình của tôi. Chúng ta không nhắc chuyện buồn nữa, ông nhé. Hãy cho bọn trẻ thấy chúng ta đã sống tốt.
Giọng ông Hù thều thào:
- Hơn một năm qua, ông vẫn chơi đàn trên núi?
Ông Mởi cười:
- Tôi chỉ chơi chừng một tháng thôi. Đó là ý tưởng của cậu Được. Chính cậu ấy bảo, chỉ tiếng đàn mới xoa dịu được vết thương trong lòng bố cháu. Cậu ấy cũng tặng tôi cây đàn Tính và cây sáo.
Ông Hù đưa tay ra cho ông Mởi nắm, giọng run run.
- Tôi không bằng ông rồi, Mởi ạ. Tôi có lỗi với ông.
Hai ông bố, hai người bạn, sau nhiều năm giờ đã nắm tay nhau.
Trên vách gỗ nhà ông Hù, những cây đàn như làm dáng.











