
Lịch sử bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc ghi nhận đóng góp thầm lặng của biết bao thế hệ. Tại vùng quê Giao Ninh (tỉnh Ninh Bình), bằng mồ hôi, tâm sức cùng tình yêu nước, các hiệp thợ làng Bỉnh Di đã vượt sóng cuồng, bão giật, kiến tạo nên các cột mốc chủ quyền giữa ngàn khơi-những công trình vững vàng góp phần quan trọng xây dựng thế trận lòng dân trên biển, khẳng định ý chí bất khuất, quyết tâm giữ trọn vẹn lãnh thổ quốc gia.

“Năm 2023, tôi vinh dự tham gia Đoàn công tác của Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân thăm, chúc Tết cán bộ, chiến sĩ trên Quần đảo Trường Sa. Đứng trước biển trời bao la, tôi tận mắt chứng kiến sức sống mãnh liệt nơi tuyến đầu Tổ quốc. Điểm tựa vững chắc ấy mang đậm dấu ấn bàn tay, khối óc của những người con làng Bỉnh Di, xã Giao Ninh” - Thiếu tướng Hoàng Kiền chia sẻ.

Nhắc đến kỳ tích kiến thiết hải đảo, quân và dân ta luôn dành sự cảm phục đặc biệt với Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Thiếu tướng Hoàng Kiền. Năm nay bước sang tuổi 76, ông vẫn giữ trọn cốt cách trung kiên của người lính Cụ Hồ. Nguyên là Tư lệnh Binh chủng Công binh, nguyên Giám đốc Ban Quản lý dự án đường tuần tra biên giới (Bộ Quốc phòng), ông là người con ưu tú của quê hương Bỉnh Di.
Suốt 44 năm binh nghiệp, vị tướng dạn dày sương gió đảm nhiệm nhiều trọng trách. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có hơn 5 năm ông gắn bó với tuyến đường Trường Sơn huyền thoại. Bước vào thời bình, ông tiếp tục cống hiến 12 năm cho Quân chủng Hải quân, dấu chân in đậm từ Bạch Long Vĩ đến Trường Sa.
Giai đoạn giữ cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn Công binh Hải quân 83 để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong cuộc đời quân ngũ của ông. Gần 8 năm ròng rã, ông trực tiếp chỉ huy lực lượng Công binh xây dựng các công trình trọng yếu trên Quần đảo Trường Sa. Nhiệm vụ giai đoạn này vô cùng nặng nề, yêu cầu kỹ thuật khắt khe, điều kiện thi công khắc nghiệt.

Hàng năm, đơn vị vận chuyển khoảng 50 nghìn tấn vật liệu từ đất liền ra các đảo chìm, đảo nổi. Khối lượng công việc khổng lồ đòi hỏi nỗ lực vươn lên phi thường. Thiếu tướng Hoàng Kiền tổ chức lại đơn vị, đưa ra nhiều đề xuất quy hoạch, thiết kế mang tính đột phá. Hàng trăm công trình hoàn thành đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Hệ thống phòng thủ kiên cố hình thành, tạo nền tảng vững chắc giữ vững chủ quyền biển, đảo thiêng liêng.

Tầm nhìn chiến lược của vị tướng Công binh còn được thể hiện trong việc tiên phong hiện thực ý tưởng “xanh hóa” Trường Sa. Đặt chân lên các điểm đảo, ông trăn trở trước cảnh quan khô cằn. Sóng mặn tàn phá thảm thực vật, nước ngọt hiếm hoi. Đời sống bộ đội đối mặt nhiều thách thức. Bữa ăn của cán bộ, chiến sĩ thiếu rau xanh. Nỗi niềm đau đáu thôi thúc ông tìm ra giải pháp. Sau nhiều đêm thức trắng, ý tưởng mang đất ra đảo hình thành. Ông trực tiếp bàn bạc cùng Ban Thường vụ, Chỉ huy Trung đoàn. Trí tuệ tập thể hội tụ, đi đến thống nhất tuyệt đối. Kế hoạch đưa đất ra Trường Sa tặng bộ đội trồng rau chính thức triển khai từ năm 1991.

Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Thiếu tướng Hoàng Kiền cho biết: Thực thi kế hoạch là hành trình gian nan. Việc đưa hàng nghìn tấn đất ra Trường Sa tạo nên kỳ tích chưa từng có của Trung đoàn Công binh Hải quân 83. Trên mỗi chuyến tàu chở vật liệu, đơn vị bố trí thêm xe đất nặng khoảng 7 tấn. Tần suất 70 chuyến tàu mỗi năm mang theo lượng đất phù sa màu mỡ khổng lồ rời bến. Suốt thời gian ông công tác tại Trung đoàn, hàng nghìn tấn đất đều đặn cập bến các đảo tiền tiêu. Hơi ấm đất liền hòa quyện cùng biển đảo.
Tuy nhiên, đất màu mỡ chưa đủ, bài toán dự trữ nước ngọt sinh hoạt và tưới tiêu đòi hỏi lời giải cấp bách. Lực lượng Công binh Hải quân mạnh dạn đề xuất phương án xây dựng hệ thống tường kè kết hợp công sự ngầm. Kế hoạch lập tức được phê duyệt. Những vòng kè bê tông vững chãi vươn lên che chắn sóng dữ, chống xói lở, tích trữ nước mưa nhằm ngọt hóa bề mặt san hô.
Bên trong lòng công sự, hàng loạt téc thép không gỉ được lắp đặt, dự trữ và bảo vệ nguồn nước ngọt. Mùa mưa đến, toàn bộ hệ thống phát huy tối đa công năng. Nước sinh hoạt cho bộ đội được đảm bảo. Quần đảo Trường Sa thay da đổi thịt từng ngày.

Rời quân ngũ, Thiếu tướng Hoàng Kiền miệt mài cống hiến. Ông truyền ngọn lửa yêu nước cho thế hệ trẻ thông qua các hoạt động xã hội, viết sách và xây dựng bảo tàng. Cuốn sách “Một thời biển đảo Trường Sa - Đoàn 83” ra mắt bạn đọc, ghi lại chân thực giai đoạn hào hùng của Lữ đoàn Công binh 83 (Quân chủng Hải quân).

Tại quê nhà, “Bảo tàng Đồng quê” do gia đình ông kiến tạo trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống. Nơi đây lưu giữ nhiều kỷ vật, mô hình, hình ảnh vô giá về Trường Sa. Hàng ngày, du khách thập phương có thể đến tham quan, tìm hiểu về phần lãnh thổ máu thịt của Tổ quốc...

Danh xưng “Làng xây đảo” gắn liền với Bỉnh Di tự nhiên và đầy tự hào. Vùng quê Giao Ninh từ lâu nức tiếng với đội ngũ thợ nề, thợ mộc tài hoa. Bàn tay họ dựng nên những mái đình cong vút, những nếp nhà ngói đỏ rêu phong. Năm 1991, Thiếu tướng Hoàng Kiền tiến hành vận động Nhân dân địa phương tham gia xây dựng Trường Sa.
Tiêu chí tuyển chọn rất khắt khe: Tay nghề giỏi, sức khỏe tốt, lý lịch rõ ràng. Đối với người dân Bỉnh Di, đây là lời hiệu triệu thiêng liêng. Công việc vượt ra khỏi giới hạn mưu sinh thuần túy - đó là trọng trách quốc gia. Làng quê dấy lên phong trào tình nguyện. Thanh niên trai tráng nô nức đăng ký lên đường thực thi sứ mệnh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.

Tháng 4 năm 1992, chuyến tàu lịch sử rẽ sóng ra khơi. Bảy người thợ xây Bỉnh Di mang theo đồ nghề và trái tim nhiệt huyết tiến về đảo Nam Yết. Ông Nguyễn Văn Hoàn khi đó mới 31 tuổi đảm nhận vai trò tổ trưởng nhóm thợ tiên phong. Đặt chân lên rạn san hô, cảnh tượng hiện ra trước mắt khác xa sức tưởng tượng của những nông dân quanh năm gắn bó với ruộng đồng. Doanh trại cán bộ, chiến sĩ toàn bộ là nhà cấp bốn. Mỗi cơn bão tràn qua đe dọa trực tiếp tính mạng bộ đội. Sóng dữ gầm gào bủa vây tứ phía. Nước ngọt đong đếm từng ca. Thời tiết khắc nghiệt bào mòn thể lực con người…
Vượt lên nghịch cảnh, tình quân dân thắt chặt nơi đảo xa. Cán bộ, chiến sĩ trên đảo nhường từng ca nước ngọt, sẻ chia khẩu phần ăn cho những người thợ. Đáp lại, tốp thợ Bỉnh Di dốc toàn lực thi công ngày đêm. Mọi yêu cầu kỹ thuật, kết cấu chịu lực được tính toán chính xác tuyệt đối. Nhờ đó, công trình nhà hai tầng đầu tiên trên đảo Nam Yết hoàn thành đúng tiến độ.
Hội đồng nghiệm thu Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng) kiểm tra kỹ lưỡng, đánh giá chất lượng đạt mức xuất sắc. Nhiệm vụ xây dựng nhà ở hai tầng thí điểm thành công vượt mọi mong đợi. Trong quá trình thi công, những người thợ còn trực tiếp đào tạo nghề xây dựng cho lực lượng chiến sĩ Trung đoàn. Nhờ đó, nghề nề truyền thống bám rễ vững chắc nơi đảo xa.

Ngọn lửa nhiệt huyết từ những người đi trước thôi thúc các hiệp thợ Bỉnh Di nối tiếp lên đường. Ông Đỗ Ngọc Quyển mang trong mình ký ức về ba lần vượt sóng ra Trường Sa. Năm 1993, ông cùng tốp thợ lênh đênh trên biển suốt 2 ngày 1 đêm tiến ra đảo Sinh Tồn. Cập bờ, nhóm thợ lập tức bắt tay xây dựng nhà chỉ huy và hệ thống công trình phụ trợ.
Ông Quyển cho biết: “Thi công trên biển là cuộc chiến cam go. Xây nhà cấp 1 ở đất liền thời gian khoảng hai tháng. Xây công trình tương tự trên đảo chìm phải mất sáu đến bảy tháng ròng rã. Địa hình phức tạp. Vật tư vận chuyển khó khăn. Mọi hoạt động phụ thuộc hoàn toàn vào chu kỳ thủy triều và diễn biến thời tiết”.
Bên cạnh đó, khung thời gian thuận lợi eo hẹp, chỉ kéo dài từ tháng 3 đến tháng 10 dương lịch. Những tháng cuối năm, giông bão rình rập, sóng lớn uy hiếp công trường. Tận dụng con nước rút, toàn đội thợ bung sức gấp 5, gấp 10 lần bình thường. Họ tranh thủ từng phút chạy đua với thủy triều.
Hoàn thành nhiệm vụ tại Sinh Tồn, ông Quyển trở về quê hương. Ngọn lửa nhiệt huyết tiếp tục bùng cháy. Năm 1994, ông khoác ba lô ra đảo Sơn Ca. Năm 2011, ông tái ngộ đảo Nam Yết. Giai đoạn 2011-2012 đánh dấu chuyến đi dài nhất của ông cùng tốp thợ Bỉnh Di. Dưới bàn tay người thợ Bỉnh Di, tòa nhà văn hóa 4 tầng bề thế vươn cao vững chãi trên đảo Trường Sa Lớn, một biểu tượng giữa trùng khơi.

Tinh thần cống hiến lan tỏa mạnh mẽ sang thế hệ kế tiếp. Ông Đỗ Văn Hương, nay bước sang tuổi 54, sở hữu bề dày thành tích đáng nể với bốn lần tham gia xây đảo. Dấu chân ông in đậm tại các đảo: Đá Đông B (năm 2010), Phan Vinh (năm 2011), Nam Yết (năm 2012) và Trường Sa Lớn (năm 2016). Tạm xa khung cảnh thanh bình của xóm mạc, ông đối mặt với không gian sống thu hẹp giữa những tảng đá san hô và dăm ba cây phong ba kiên cường. Xung quanh chỉ có cán bộ, chiến sĩ trên đảo làm bạn.

Điều kiện thi công đẩy sức chịu đựng của con người đến giới hạn cực đại. Xây xong hàng gạch trên đảo vất vả ngang ngửa việc hoàn thiện cả bức tường lớn ở quê nhà. Yêu cầu kỹ thuật buộc thợ dùng nước ngọt để trộn vữa. Nước ngọt hiếm hoi, quý hơn vàng. Đội thợ tự nguyện “thắt lưng buộc bụng”. Họ chắt chiu từng ca nước, nhường phần nước ăn uống dùng nhào hồ. Vượt qua bao nhọc nhằn, từng công trình khang trang dần vươn cao giữa biển. Khó khăn bủa vây không làm chùn bước chân người thợ Bỉnh Di, trách nhiệm với Tổ quốc tiếp thêm sức mạnh giúp họ trụ vững nơi đầu sóng.

Theo thống kê chưa đầy đủ, từ năm 1992 đến nay, hơn 300 người dân xã Giao Ninh đã tình nguyện vươn khơi đóng góp tâm sức xây dựng các công trình tại Quần đảo Trường Sa, trong đó làng Bỉnh Di tự hào là lực lượng nòng cốt. Lớp người đi trước truyền lửa nhiệt huyết cho thế hệ đi sau kiến tạo nên danh xưng “Làng xây đảo”. Từng công trình vươn lên giữa trùng khơi khẳng định bản lĩnh của người thợ Bỉnh Di trên hành trình bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.









