Ninh Bình không chỉ là nơi hội tụ của những danh thắng kỳ vĩ mà còn là dòng chảy văn hóa độc đáo với hàng trăm lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, việc giữ gìn mạch nguồn di sản từ các lễ hội không đơn thuần là câu chuyện bảo tồn, mà là bài toán định vị thương hiệu Ninh Bình trên bản đồ di sản thế giới.
Sau hợp nhất tỉnh, Ninh Bình sở hữu một kho tàng lễ hội đồ sộ, phong phú cả về loại hình, quy mô lẫn chiều sâu văn hóa. Theo thống kê của ngành chức năng, tỉnh Ninh Bình hiện có hơn 5.000 di tích lịch sử, văn hóa và khoảng 750 lễ hội truyền thống được duy trì, tổ chức hàng năm. Nhiều lễ hội được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như: Lễ hội Cố đô Hoa Lư, lễ hội Đền Trần, lễ hội Phủ Dầy, lễ hội Chùa Keo Hành Thiện, lễ hội Chùa Đại Bi, lễ hội Đền Chùa Linh Quang, lễ hội Đền Thánh Nguyễn, lễ hội Báo bản làng Nộn Khê, lễ hội làng Bình Hải, lễ hội Đền Trần Thương, lễ hội Tịch điền Đọi Sơn, lễ hội vật võ Liễu Đôi, lễ hội Đền Lảnh Giang, lễ hội Chùa Bà Đanh, lễ hội Chùa Đọi Sơn, lễ hội Đền Bà Vũ.
Các lễ hội mùa Xuân ở Ninh Bình.
Song điều làm nên giá trị cốt lõi không nằm ở số lượng, mà ở cấu trúc văn hóa đặc biệt của các lễ hội. Sau hợp nhất, các dòng chảy tín ngưỡng - lịch sử - nông nghiệp - Phật giáo - làng xã vốn tồn tại song song nay được đặt trong một chỉnh thể rộng lớn hơn, tạo nên một cấu trúc văn hóa có chiều sâu và tầm vóc mới. Đó là sự giao thoa giữa văn hóa cung đình và văn hóa dân gian, giữa tín ngưỡng thờ mẫu, thờ thần linh và tinh thần thượng võ, giữa lòng yêu nước và khát vọng thái bình.
Sự đa sắc này, so sánh như PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương thì chính là “mã gen” làm nên bản sắc văn hóa rất riêng của vùng đất Cố đô. Nếu nhìn theo chiều dọc lịch sử, các lễ hội ở Ninh Bình phản ánh một tiến trình gần như đầy đủ của quốc gia độc lập, tự chủ: từ thời Đinh - Tiền Lê - Lý dựng lên nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, đến thời Trần củng cố quốc gia, phát triển văn hóa, rồi sự tiếp nối của tín ngưỡng dân gian và Phật giáo qua nhiều thế kỷ. Nếu nhìn theo chiều ngang văn hóa, đó là sự giao thoa giữa tín ngưỡng thờ vua, thờ thành hoàng - thờ Phật - thờ các vị thần bản địa - thờ danh nhân, anh hùng liệt sỹ.
Điểm gặp nhau ở đây không nằm ở hình thức thờ tự, mà ở tinh thần hướng thiện. Dù là thờ Phật hay thờ vua, thờ thành hoàng hay danh nhân, tất cả đều nhắc con người sống có đạo lý, biết ơn nguồn cội, giữ gìn nền nếp và hướng tới những điều tốt đẹp cho gia đình, cho cộng đồng và cho đất nước. Chính sự hòa quyện ấy làm nên chiều sâu rất riêng của lễ hội Ninh Bình.
Lễ rước nước trên sông Sào Khê - Nghi thức linh thiêng mang đậm dấu ấn tín ngưỡng dân gian vùng Cố đô, thể hiện sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên.
Từ bề dày lịch sử, chiều sâu tín ngưỡng đến cấu trúc văn hóa đa tầng tích hợp qua nhiều thế kỷ, có thể thấy lễ hội truyền thống chính là dòng chảy làm nên bản sắc văn hóa, con người vùng đất Cố đô. Kho tàng ấy chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt trong đời sống đương đại, nơi di sản không nằm yên trong ký ức mà tiếp tục được thực hành, trao truyền và làm mới qua từng thế hệ.
Nếu coi di sản lễ hội là một dòng chảy, thì cộng đồng chính là mạch nguồn âm thầm nhưng bền bỉ nuôi dưỡng dòng chảy ấy qua nhiều thế hệ. Bởi suy cho cùng, mạch nguồn lễ hội không tồn tại trong văn bản hay nghi thức mà sống trong chính cộng đồng, những người đang nỗ lực gìn giữ, thực hành và trao gửi niềm tin qua năm tháng. Họ chính là chủ thể trung tâm, là “trái tim” trong hành trình giữ gìn và đánh thức mạch nguồn lễ hội hôm nay.
Tại lễ hội Động Hoa Lư (Thung Lau), xã Gia Hưng, khi tiếng trống hội vang lên giữa tiết xuân, người ta không chỉ chứng kiến một nghi thức văn hóa được tái hiện đầy đủ, mà còn cảm nhận được không gian cộng đồng linh thiêng, nơi mỗi người dân là một chủ thể, “giữ lửa” cho nghi lễ truyền thống.
Bốn thập kỷ đứng trong hàng rước rồng của lễ hội Động Hoa Lư, ông Đinh Khắc Thịnh (thành viên đội múa rồng xã Gia Hưng) chứng kiến bao đổi thay của quê hương. Những con đường đất lầy lội nay đã được bê tông hóa, đời sống vật chất và tinh thần của bà con ngày càng khởi sắc. Nhưng có một điều mà lớp lớp thế hệ người dân nơi đây vẫn bảo nhau gìn giữ, trao truyền đó chính là mạch nguồn văn hóa và truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Có thể nói, trong nhịp sống hiện đại với nhiều thách thức và biến đổi, lễ hội truyền thống chính là điểm hẹn văn hóa tâm linh, góp phần củng cố quan hệ cộng đồng, xã hội và gìn giữ những giá trị lâu đời. Ở đó, mỗi người tạm gác lại những lo toan thường nhật, tìm đến sự thanh thản nội tâm và hướng đến những điều thiện lành, tốt đẹp.
Bà Đinh Thị Ngọt (phường Hoa Lư) chia sẻ: “Vào dịp đầu xuân, tôi thường tham gia các lễ hội trên địa bàn tỉnh như lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội Đền Trần, lễ hội Hoa Lư. Vừa là để vãng cảnh thiên nhiên trong lành, vừa để gửi gắm những ước vọng cầu cho đất nước được thanh bình, nhà nhà hạnh phúc”.
Bên cạnh giá trị tinh thần, các lễ hội truyền thống ở Ninh Bình còn góp phần tạo việc làm cho hàng nghìn người dân địa phương. Từ các dịch vụ lưu trú, ăn uống đến việc kinh doanh sản phẩm đặc sắc của làng quê, lễ hội đã mở ra cơ hội để nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ bước ra khỏi lũy tre làng, tiếp cận với du khách thập phương.
Thực tiễn cho thấy, khi được tổ chức bài bản, lễ hội sẽ trở thành cầu nối giữa văn hóa và phát triển, giữa bảo tồn và khai thác bền vững. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra một bài toán không dễ, làm sao để phát triển kinh tế lễ hội mà không đánh mất giá trị cốt lõi? Làm sao để hoạt động dịch vụ không lấn át không gian tâm linh? Câu trả lời, suy cho cùng vẫn nằm ở cộng đồng. Khi người dân ý thức rằng, họ là chủ thể của di sản, họ sẽ tự điều chỉnh hành vi, cân bằng giữa lợi ích trước mắt và giá trị lâu dài, trở thành những “đại sứ” đắc lực để quảng bá văn hóa, truyền thống tốt đẹp của quê hương đúng theo phương châm “Sống trong di sản, bảo vệ di sản và hưởng lợi từ di sản”.
Trong đời sống hiện đại, lễ hội truyền thống không chỉ là điểm hẹn sinh hoạt văn hóa của cộng đồng mà còn trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa. Với Ninh Bình - vùng đất sở hữu Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới Tràng An với truyền thống lịch sử lâu đời, lễ hội chính là một “điểm chạm” văn hóa giúp du khách hiểu sâu hơn về con người và lịch sử nơi đây. Mỗi mùa Xuân, khi nhiều lễ hội được tái hiện, phục dựng, Ninh Bình đón lượng lớn du khách trong nước và quốc tế tham quan, vãng cảnh và trải nghiệm đời sống văn hóa cộng đồng.
Chùa Tam Chúc được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi hùng vĩ và mặt hồ bao la.
Chị Vũ Thị Tâm, hướng dẫn viên du lịch tại Hà Nội, người có nhiều năm dẫn các tour “du lịch tâm linh” tại Ninh Bình cho biết: “Khách quốc tế bây giờ họ không thích các chương trình dàn dựng kiểu công nghiệp mà muốn vừa ngắm cảnh, vừa muốn trải nghiệm không gian văn hóa tại vùng đất họ đến. Khi tham gia các lễ hội ở Ninh Bình, họ rất thích thú tìm hiểu về ý nghĩa của nghi thức rước kiệu, về việc người dân tưởng nhớ các vị vua và danh nhân. Điều khiến họ ấn tượng nhất là lễ hội không phải là một buổi biểu diễn được dàn dựng, mà là sinh hoạt văn hóa thực sự của cộng đồng”.
Những thay đổi trong nhu cầu du lịch cho thấy tiềm năng phát triển công nghiệp văn hóa từ lễ hội của Ninh Bình còn rất lớn. Lễ hội không chỉ là hoạt động tín ngưỡng mà còn có thể trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch đặc sắc nếu được tổ chức bài bản và khai thác hợp lý. Trong bối cảnh đó, vai trò của chính quyền địa phương, đặc biệt ở cấp cơ sở ngày càng quan trọng, góp phần quản lý và phát huy tốt hơn giá trị lễ hội.
Song song với đó, chính quyền địa phương cũng tăng cường quản lý các hoạt động dịch vụ, hạn chế tình trạng mê tín dị đoan hoặc thương mại hóa phản cảm trong mùa lễ hội. Công tác tuyên truyền về văn hóa ứng xử, gìn giữ môi trường lễ hội cũng được lồng ghép vào các buổi sinh hoạt cộng đồng và hoạt động giáo dục trong trường học.
Để hiện thực hóa định hướng này, các ngành chức năng đang triển khai nhiều giải pháp như số hóa thông tin về lễ hội, xây dựng bản đồ di sản, phát triển các sản phẩm du lịch gắn với lễ hội như ẩm thực truyền thống, sản phẩm thủ công của các làng nghề địa phương. Bên cạnh đó, các lễ hội tiêu biểu cũng được định hướng tổ chức ở quy mô lớn hơn, hướng tới trở thành những sự kiện văn hóa có sức lan tỏa rộng.
Lễ hội Tràng An.
Thực hiện mục tiêu chiến lược đưa tỉnh phát triển nhanh và bền vững, đưa du lịch và công nghiệp văn hóa trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn, Ninh Bình đang hiện thực hóa các nghị quyết của Đảng về văn hóa bằng một lộ trình bài bản, đưa tỉnh trở thành hình mẫu về phát triển bền vững dựa trên các giá trị di sản. Khi lễ hội được đặt đúng vị trí trong dòng chảy của chiến lược phát triển văn hóa quốc gia, nó sẽ trở thành động lực mạnh mẽ đưa Ninh Bình trở thành trung tâm du lịch, văn hóa hàng đầu, xứng tầm với bề dày lịch sử ngàn năm của dân tộc. Giữ mạch nguồn di sản ấy chính là giữ lấy “căn cước” của dân tộc để tự tin vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của sự phát triển hài hòa, nhân văn và bền vững.