
Lối rẽ vào thôn Đô Đò, xã Nam Lợi cũ (nay là xã Nam Ninh), nơi nhà thơ Đoàn Văn Cừ từng sống và viết nên những vần thơ rực rỡ nhất đời mình, vẫn giữ nguyên vẻ trầm lặng. Cây gạo to đứng ở góc làng như một dấu mốc của thời gian. Con đường nhỏ vắt qua đồng lúa dẫn vào ngôi nhà cũ của nhà thơ, nay chỉ khác ở cánh cổng sắt màu xanh dương, xung quanh là những ngôi nhà mái bằng, nhà cao tầng nom khá “hợp thời”. Còn cảnh vật vẫn y nguyên như thuở ông về đây ở ẩn: ba gian nhà ngói, lối ngõ phảng phất mùi rơm rạ, hàng cau đung đưa trong gió chiều.
Một khung cảnh bình dị như bao làng quê miền Bắc khác, nhưng khi đi vào thơ ông lại bừng sáng với những mảng màu tươi mới: màu xanh của đồng, màu hồng của áo Tết, màu đỏ của tranh gà lợn, những gam màu tía của tia nắng đầu xuân. Tất cả những điều ấy bắt nguồn từ trái tim giàu yêu thương của ông giáo làng từng sống cùng quê lũ trẻ nghèo, hiểu từng lối đi, cảm nhận từng vẻ đẹp tinh tế nhất của quê hương.
Ông từng nói: “Mỗi bài thơ với tôi là một bức tranh đồng nội. Tôi muốn tất cả những gì thân yêu, quen thuộc ở cái làng quê tĩnh lặng của tôi trở nên tươi mới, đẹp đẽ”. Một lời tâm sự đủ để hiểu vì sao thơ ông có sức sống lâu bền đến vậy. Có lẽ chính tình yêu chân thành, giản dị nhưng mãnh liệt và sâu sắc đó đã làm nên một “Thôn Ca” có một không hai với màu sắc tươi trẻ, đầy sức sống, mang nặng tình quê, hồn người. Và, có lẽ cũng chính thôn quê đã làm nên một nhà thơ Đoàn Văn Cừ với những “Chợ Tết”, “Đám cưới mùa Xuân”, “Đám hội”, “Ngày xuân chơi đồng quê”... đúng như nhà nghiên cứu phê bình Hoài Thanh từng nhận định: “Trong các nhà thơ đồng quê, không ai có ngòi bút dồi dào mà rực rỡ như Đoàn Văn Cừ”.
Chính từ mạch nguồn ấy, thơ Đoàn Văn Cừ hình thành một thế giới nghệ thuật rất riêng: rộn ràng mà vẫn trong trẻo, nhiều chi tiết mà không rối mắt, tươi tắn nhưng không lên gân. Ở đó, mỗi nét bút của ông như chạm vào ký ức chung của người Việt về Tết, từ mùi rơm mới, tiếng gà gáy sáng, đến sắc khăn đào, yếm thắm trên những con đường làng se lạnh.
Ông không “kể lại” Tết, mà làm Tết hiện ra, sống động, có hơi thở, có âm thanh và nhịp chuyển động. Người đọc bước vào thơ ông không phải bằng trí nhớ, mà bằng giác quan, bằng cảm giác như chính mình đang đứng giữa một miền quê nhộn nhịp ngày giáp Tết. Điều này giải thích vì sao, dù thời gian đổi thay, những câu thơ của ông vẫn giữ được sự tươi nguyên và đầy sức gợi.
Nhà thơ Đoàn Văn Cừ (1913-2004) sinh ở làng Đô Quan, thôn Đô Đò, xã Nam Lợi, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (cũ), nay là xã Nam Ninh, tỉnh Ninh Bình. Ông là một trong 46 nhà thơ tiêu biểu của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt đầu tiên năm 2001 với tập thơ “Đường về quê mẹ” và “Tuyển tập Đoàn Văn Cừ”.
Những phiên chợ truyền thống vẫn luôn là nơi lưu giữ hồn quê. Làng quê trong thơ Đoàn Văn Cừ không dừng ở miêu tả cảnh vật, mà thấm đẫm phong tục, tập quán, nếp sống nguyên sơ của một miền quê hiền hòa. Hình ảnh ấy luôn hiện diện tròn đầy, bao bọc ông suốt tuổi thơ và cả đời làm thơ. Trong thơ, mùa Xuân của ông có mùi gạo nếp mới, có cá nướng than hồng trong chiều cuối Chạp, có những bức tranh dân gian rực rỡ:
“Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng
Cá đêm cuối Chạp nướng than hồng
Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn
Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông”
(Tết quê bà)
Nhà phê bình Hoài Thanh từng ví thơ ông như “chuỗi cười ngũ sắc” - một so sánh đẹp, chính xác, bởi những sắc màu ấy chính là linh hồn thơ ông, đặc biệt trong các bài viết về Tết.
Trong số những bức tranh xuân ông để lại, “Chợ Tết” là tác phẩm khiến nhiều thế hệ độc giả nhớ mãi. Với lối tả chân thực và quan sát tinh tế, ông làm hiện lên cả một phiên chợ Tết quê nhộn nhịp qua từng chi tiết sống động: “Áo cụ lý bị người chen sấn kéo - Khăn trên đầu đương chít cũng tung ra”, “Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon”, “Vài cụ già chống gậy bước lom khom”, “Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ”, “Con trâu đứng vờ rim hai mắt ngủ...”.
Nhưng “Chợ Tết” không chỉ có cảnh, nó còn chứa cả văn hóa của một miền quê Việt:
“Anh hàng tranh kĩu kịt quảy đôi bồ
Tìm đến chỗ đông người ngồi dở bán
Một thầy khoá gò lưng trên cánh phản
Tay mài nghiên hý hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho đứng lại vuốt râu cằm
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ”...
Và với đoạn thơ dài hơn hai mươi câu, trong đó có hình ảnh bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ, mái tóc trắng như được “nước thời gian gội”, ông đã dựng nên một “bảo tàng ký ức” về hương vị Tết, đủ sắc, đủ hồn để người đọc thấy mình đang bước trong chợ làng của chính quê mình.
Rực rỡ và hóm hỉnh, “Chợ Tết” còn là bức tranh phong cảnh mùa Xuân giàu màu sắc:
“Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh”…
Những mẹt cam đỏ chót, thúng gạo nếp trắng như núi tuyết, con gà mào thâm như cục tiết... tất cả hiện lên rõ nét như một bức họa xuân đậm chất dân gian. Đó là vẻ đẹp mà chỉ người thực sự “ăn đời ở kiếp” với làng quê, với ruộng đồng như ông mới có thể viết ra.
Sinh thời, cả khi tuổi đã trên dưới 90, Đoàn Văn Cừ vẫn không rời cây bút. Năm nào Tết đến, ông cũng làm thơ, viết câu đối gửi báo tỉnh. Hơn 70 năm cầm bút, sắc màu thơ ông vẫn luôn tươi vui, rộn ràng, nhất là trong những bài viết về mùa Xuân. Hoài Thanh từng viết trong “Thi nhân Việt Nam”: “Nghĩ đến Đoàn Văn Cừ là tôi lại nghĩ đến Tết”. Một câu nhận xét đủ để đặt ông vào vị trí đặc biệt trong thơ ca Việt Nam: nhà thơ của ngày Tết, của hồn quê.
Trong bài “Tết”, chỉ cần vài nét chấm phá, Đoàn Văn Cừ đã dựng nên khung cảnh sáng mồng một đầm ấm ở thôn quê:
“Sáng hôm mồng một Tết,
Đèn nến thắp xong rồi,
Bà tôi ngồi trong ổ,
Mặc áo đỏ cho tôi. …
Giờ lâu tràng pháo chuột
Đì đẹt nổ trên hè
Con gà mào đỏ chót Sợ hãi chạy le te”
Trong bài “Làng”, ông tái hiện đời sống thanh bình nơi làng quê, rồi mở ra những ngày Tết rộn ràng:
“Vào dạo đầu xuân lá dệt cành
Quanh làng lúa biếc phủ mông mênh
Dừng chân người khách đằng xa ngỡ
Hòn đảo con nào giữa biển xanh …
Tết: bánh chưng xanh xếp chật nồi
Con Vàng sợ pháo chạy cong đuôi
Cô nào đi lễ khăn vuông mới,
Chiếc yếm đào trông đến đẹp tươi”...
Hôm nay, khung cảnh nông thôn mới diện mạo đã đổi thay rất nhiều. Song đọc thơ Đoàn Văn Cừ vẫn như thấy những hình ảnh cháu bé áo đỏ chạy lon ton, nồi bánh chưng xanh trên bếp, chợ quê tưng bừng ngày giáp Tết… đâu đó quanh ta. Có lẽ vì ông viết bằng tất cả những gì ông đã sống, đã yêu, đã trân trọng, gìn giữ nét văn hóa nơi quê nhà. Và vì thế, mỗi khi mùa Xuân trở lại, người ta lại nhớ đến ông - một nhà thơ đã dành cả đời để thêu dệt nên vẻ đẹp mộc mạc của làng quê Việt Nam trong từng câu chữ.
Đoàn Văn Cừ - Một nhà thơ của Tết.
Một người giữ hồn quê.
Một người đã gói sắc xuân vào thơ, để mùa Xuân ấy còn mãi.









