Sơ kết tình hình thực hiện 6 nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh
Thứ Năm, 02/04/2026, 16:24
Zalo
Sáng 2/4, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương tổ chức hội nghị sơ kết tình hình thực hiện 6 nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế - xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối tới điểm cầu các tỉnh, thành phố trong cả nước.
Quang cảnh hội nghị tại điểm cầu Tỉnh ủy Ninh Bình.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương dự và chủ trì hội nghị tại điểm cầu Trung ương.
Tại điểm cầu Tỉnh ủy Ninh Bình, đồng chí Trần Huy Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy dự và chủ trì hội nghị.
Đồng chí Trần Huy Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy dự và chủ trì hội nghị tại điểm cầu Tỉnh ủy Ninh Bình.
Cùng dự có cácđồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy:Trần Song Tùng,Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; Phạm Duy Hưng, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy; Mai Văn Quyết, Giám đốc Sở Tài Chính; Nguyễn Văn Lượng, Giám đốc Sở Xây dựng; lãnh đạo các sở, ngành của tỉnh.
Các đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Tỉnh ủy Ninh Bình.
Năm 2022, Bộ Chính trị ban hành 6 nghị quyết định hướng phát triển cho 6 vùng kinh tế - xã hội gồm: Trung du và miền núi Bắc bộ; Đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Sau 3 năm triển khai, các nghị quyết đã tạo chuyển biến rõ nét cả về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị. Các cấp ủy, chính quyền chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể hóa nghị quyết, gắn với điều kiện thực tiễn của từng địa phương. Vai trò của phát triển vùng và liên kết vùng ngày càng được đề cao. Hệ thống cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện; quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh được điều chỉnh, bổ sung theo hướng đồng bộ, hiện đại, tạo cơ sở quan trọng để tổ chức không gian phát triển hiệu quả hơn.
Về kinh tế, các vùng cơ bản duy trì tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và kinh tế số. Nhiều cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, khu công nghiệp, khu kinh tế và trung tâm dịch vụ, du lịch quy mô lớn được hình thành, phát huy hiệu quả. Đơn cử, vùng Đông Nam Bộ đóng góp 30% GDP cả nước và duy trì vị thế dẫn đầu về thu nhập bình quân đầu người; vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 5,8%/năm giai đoạn 2021-2025; vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung tiếp tục duy trì tăng trưởng, phát huy vai trò kinh tế biển và các khu kinh tế ven biển; vùng Đồng bằng sông Hồng giữ vững vị trí trung tâm kinh tế lớn thứ hai cả nước;vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ từng bước khai thác hiệu quả tiềm năng, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và hạ tầng...
Kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông được quan tâm đầu tư với nhiều dự án quan trọng quốc gia và liên vùng được triển khai, góp phần tăng cường kết nối, mở rộng không gian phát triển. Các hành lang kinh tế, trục giao thông chiến lược, hệ thống cảng biển, sân bay, logistics từng bước hoàn thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh của các vùng.
Lĩnh vực văn hóa - xã hội đạt nhiều kết quả tích cực; an sinh xã hội được bảo đảm; đời sống Nhân dân tiếp tục được cải thiện. Công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực có chuyển biến rõ rệt; các giá trị văn hóa được bảo tồn, phát huy gắn với phát triển du lịch. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; các địa bàn chiến lược được củng cố vững chắc, góp phần tạo môi trường ổn định cho phát triển.
Đặc biệt, liên kết vùng đã có bước chuyển biến quan trọng. Các cơ chế điều phối vùng từng bước được thiết lập; sự phối hợp giữa các địa phương trong quy hoạch, thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng, du lịch và nguồn nhân lực ngày càng chặt chẽ hơn, góp phần phát huy lợi thế so sánh của từng vùng và từng địa phương.
Tại hội nghị, các đại biểu tập trung thảo luận, làm rõ những kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; đồng thời kiến nghị giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế điều phối vùng, đổi mới tư duy phát triển theo hướng liên kết chặt chẽ, thực chất hơn giữa các địa phương.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phát biểu tại hội nghị. Ảnh: nhandan.vn
Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nhấn mạnh, qua 3 năm triển khai thực 6 nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế - xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cho thấy đây là những chủ trương, định hướng rất đúng đắn của Đảng, là cơ sở quan trọng để các Bộ, ngành, địa phương ban hành các cơ chế, chính sách, bổ sung nguồn lực cho phát triển. Việc triển khai các nghị quyết đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của các địa phương trong vùng; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt.
Đồng chí đề nghị cơ quan soạn thảo các báo cáo cần tiếp tục rà soát, đánh giá toàn diện, làm sâu sắc hơn những kết quả đạt được, đồng thời phân tích kỹ những tồn tại, hạn chế. Đặc biệt, phải nhận diện rõ các “điểm nghẽn”, những nguyên nhân cản trở sự phát triển của từng vùng, từng địa phương để đề xuất các giải pháp phù hợp, nhất là về cơ chế, chính sách đặc thù.
Tiếp tục nghiên cứu, định vị rõ hơn vị trí, vai trò của từng vùng trong tổng thể nền kinh tế quốc gia; xác định các động lực tăng trưởng mới, mô hình kinh tế mới phù hợp với đặc thù từng vùng, qua đó phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, tạo sự phát triển nhanh và bền vững. Tập trung nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện thể chế đủ mạnh để phát huy tốt tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, từng vùng trong phát triển kinh tế - xã hội, gắn với đảm bảo quốc phòng - an ninh trong giai đoạn mới.
Đồng chí giao Ban Chỉ đạo và Tổ Biên tập nghiêm túc tiếp thu các ý kiến tại hội nghị, rà soát kỹ lưỡng để hoàn thiện các báo cáo, đề án trình Bộ Chính trị, bảo đảm chất lượng, tiến độ theo yêu cầu đề ra.