
Hồi ấy chưa có chăn dạ như bây giờ, ai ai cũng phải đắp chăn bông. Những cái chăn bông dày và nặng kinh khủng. Tôi thường gập chăn làm đôi, một nửa nằm, một nửa đắp. Mẹ lại hay ém cái mép chăn thật kín, thật chặt, thành ra tôi y như một con sâu bướm đang nằm trong một cái kén rất to. Tôi nằm yên trong chăn ấy, ngửi mùi thơm của nồi cám hơi bén lửa, nghe tiếng đàn gà lục tục nhảy ra khỏi chuồng, hé mắt nhìn qua ô cửa sổ có mấy cái chấn song xanh xanh đã bạc màu sơn. Thích lắm. Thích nhất là cái cảm giác thật ấm áp trong khi bên ngoài kia thì buốt ơi là buốt, gió tạt qua mặt cũng rát nhói lên. Và rùng mình khi nghĩ đến việc phải chui ra khỏi chăn, mặc thật nhiều áo, có bao nhiêu cái mặc vào bằng hết, rồi lò dò ra khỏi buồng.
Suốt những mùa đông bé thơ, tôi mặc một chiếc áo len mà mẹ gom lại từ rất rất nhiều những mẩu len vụn. Có mẩu chỉ dài chừng gang tay, thi thoảng có đoạn dài một hai mét. Mẹ tôi tỉ mẩn nối thật khéo và đan thành một chiếc áo chui đầu, với vô số màu sắc. Tôi vẫn nhớ như in cái áo ấy. Nó phải có mười, hoặc mười hai, mười ba loại len, với đủ màu xanh đỏ tím vàng, đen trắng... Tôi mặc bên trong một chiếc áo cánh, rồi mặc áo len, rồi lại mặc áo cánh, áo cánh, áo cánh… ngoài cùng mới tới một chiếc áo dạ mà tôi là đời chủ thứ tư của nó. Đầu tiên là dì tôi mặc, rồi dì lớn, thải ra anh cả tôi mặc, anh lớn lại thải ra anh thứ hai mặc, anh thứ lớn nốt thì thải cho tôi. Chiếc áo dạ màu tím than, có những chiếc cúc mạ vàng nhưng đến tôi thì phần mạ đã bay đi hết, tay áo, vai áo, vạt áo, cổ áo đều sờn mòn. Cũng chả biết nguồn gốc từ đâu mà nhà tôi lại có một cái áo xa xỉ đến thế để lần lượt sang tên cho nhau.
Và suốt mùa đông, có hai cái áo tôi hầu như không giặt, chính là áo len và áo dạ. Những mùa đông của tôi dài ghê gớm và liên miên rét, không có một ngày nào ấm áp. Nếu giặt thì có khi cả tuần không khô, mang hơ cạnh bếp cũng không ăn thua gì. Thế nên không giặt, cứ mặc suốt, ngày này qua ngày khác, hết mùa đông mới giặt.
Tôi mặc cái áo ấy vào và đi ra khỏi buồng, sau khi đã gấp cái chăn bông còn nguyên hơi ấm một cách luyến tiếc. Trời đã sáng bảnh mắt ra rồi, mẹ tôi hay nói thế. Chỉ có tôi út ít được ườn người ra thôi, chứ hai anh tôi thì đã dậy từ lâu. Hai anh ấy đánh răng rửa mặt xong xuôi, quét nhà quét sân, và đang ngồi hơ tay bên bếp lửa.
Sáng ấy mẹ tôi luộc một nồi khoai lang. Khoai Hoàng Long, thu hoạch từ lâu và để trong gầm giường, vàng như đỗ xanh, bở tơi, rất thơm. Mẹ rang thêm một chảo cơm nguội. Tối hôm trước nấu nhiều lên để sáng ra có cơm nguội mà rang. Thỉnh thoảng trong liễn mỡ còn sót lại một hai miếng tóp bé tí xíu, lẫn vào cơm rang. Ôi chao! Sao mà nó ngon đến thế. Ngon tới mức chỉ ước gì nhai mãi mà nó không tan trong miệng.
Chúng tôi ngồi bên bếp ăn sáng. Gió rít bên ngoài mạnh đến nỗi tôi cảm thấy nó bào mòn cả vách bếp bằng đất trộn rơm và làm những tàu lá cọ trên mái dựng ngược lên. Mặt ao nổi váng. Những tảng váng xuất hiện một cách khó hiểu, không biết từ đâu ra, nhưng giống như có một tấm mạng nhện rất to từ đâu rơi xuống và phủ kín cả mặt nước. Mẹ tôi nói khi ao nổi váng kiểu ấy là trời sẽ rất rét. Cực kì rét. Trên nhà, chiếc nhiệt kế màu xanh cũ kĩ bố tôi treo tường dừng ở vạch mười độ. Trong nhà mười độ thì ngoài trời chỉ bảy tám độ thôi. Rét nữa thì không biết tới đâu. Mẹ tôi hỏi: "Nhà mình còn củi không nhỉ?". Anh cả tôi đáp: "Còn ba, bốn bó mẹ ạ". Củi ấy hai anh tôi lấy từ rừng về. Chốc nữa hai đứa ra mang về đây kẻo mai mưa lại ướt hết không có gì mà đun. Là mẹ nghe đài báo đợt rét mới sắp về.
Rét ở rừng luôn kèm theo mưa. Cứ bắt đầu một đợt rét mới là có mưa kèm theo. Để chống chọi với nó, chúng tôi phải có thật nhiều củi khô. Càng mưa rét thì càng tốn củi. Bếp cháy cả ngày để giữ ấm. Nhờ giời, củi không phải đi mua. Chỉ nửa ngày lên rừng là mỗi anh tôi đã có thể mang về một bó rất to. Và để dự trữ củi cho mùa Đông thì cuối thu nào cả làng cũng kéo nhau vào rừng. Hết củi khô thì chặt củi tươi, về dựng góc vườn cho nó khô dần. Đám thanh niên tự ước lượng xem mấy tháng mùa Đông nhà mình sẽ dùng hết bao nhiêu bó củi, rồi theo đấy mà đi lấy về.
Nhà người ta hay làm cái ô bếp sát tường cho tiết kiệm diện tích. Riêng nhà tôi, bố kê kiềng xa ra, để lấy chỗ rộng rãi cho cả nhà ngồi sưởi.
Mẹ tôi có một cái vại sành để muối dưa cải. Cái vại lúc nào cũng có dưa. Trời lạnh dưa khó chua nên phải vần nó vào gần bếp, lấy cái hơi nóng từ bếp toả ra cho dưa nhanh chua. Mấy anh em tôi ngồi với nhau bên bếp cả ngày. Trong góc chạn còn một bó miến nhỏ, chúng tôi lấy ra để nướng. Cời bếp, gắp một ít than ra và đặt những sợi miến bé tí lên đấy, đợi nó phồng lên thì ăn. Trong lúc đấy thì mẹ ngồi bóc lạc, khâu chiếc áo bị rách, hoặc đan nốt chiếc mũ len cho anh tôi cũng bằng những sợi len vụn nối vào nhau. Bố thì mang mỏ hàn ra để hàn những thứ bị hỏng. Hai anh tôi thi nhau kể chuyện ở trường. Tôi thích nhất những lúc cả nhà quây quần như thế. Trời cứ mưa suốt từ sáng đến tối. Vườn tược chỗ nào cũng lướt thướt. Và buốt giá.
Tôi đội nón đi ra vườn chặt mấy củ su hào. Bọn su hào gặp trời lạnh quá, dừng lớn, co ro đứng dưới mưa, những tàu lá nặng trĩu, rũ xuống vì ướt. Thỉnh thoảng có củ nứt toác ra. Tay tôi chạm vào những tàu lá mà cảm giác như cái lạnh xuyên vào tận xương. Su hào ấy gọt ra, xắt con chì và cho vào nồi kho. Su hào kho là món mà anh em chúng tôi ăn suốt mùa Đông. Kho mềm, với một chút mắm muối, thi thoảng có một ít tóp mỡ, xem xém cạnh, ngả màu vàng nâu. Ăn nóng với cơm nóng.
Mẹ tôi còn có món bánh sắn, mà từ lúc ăn với mẹ tới giờ tôi chưa từng được ăn lại. Sắn luộc lên, với một ít muối, rồi mẹ cho vào cối giã. Giã cho thật dẻo. Rồi ra vườn lấy hành lá về xào lên. Dùng hành xào ấy làm nhân bánh. Vo tròn và nướng trên bếp than. Anh em chúng tôi ăn đến no bụng, đến bỏ cả cơm. Mẹ ngồi nhìn chúng tôi ăn và mỉm cười. Mẹ luôn mỉm cười hạnh phúc như thế khi nhìn lũ con ăn những món ngon của con nhà nghèo. Giờ mà kể lại, thế nào mẹ cũng lặng lẽ chảy nước mắt.
Những mùa Đông dài lê thê ấy, mọi thứ đều ngủ. Cây cối, vườn tược, ao chuôm… tất cả tĩnh lặng, kiên nhẫn chịu đựng những cơn gió bấc rú rít một cách khốc liệt và tàn nhẫn, chịu đựng những giọt mưa nhẹ bẫng, lây phây mà buốt như kim châm. Ngay cả nước trong máng vầu hình như cũng chảy chậm lại. Chỉ những ngọn lửa là không dừng nhảy múa trong góc bếp.
Căn bếp nghèo ngày ấy như một cái tổ chim ấm áp để chúng tôi trú ngụ, lớn lên và cất cánh bay đi.









