
Năm 1941, khi làm tuyển tập “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã chọn 8 bài thơ trong 3 tập thơ của Nguyễn Bính để đưa vào tuyển tập, trong đó có bài “Xuân về”. Năm 1986, khi Nhà xuất bản Văn học làm tuyển tập thơ ông, bài đầu tiên in nguyên cả bút tích của ông là “Mưa xuân” với những câu thơ da diết: “Chiều xuân lưu luyến không đành hết/ Lơ lửng mù sương phảng phất mưa”. Mỗi độ Tết đến, Xuân về, nhà thơ Nguyễn Bính đều có những bài thơ xuân đặc sắc. Từ những “Thơ xuân”, “Xuân đến”, “Mùa xuân xanh”, “Tết của mẹ tôi”… trước cách mạng cho đến “Tiếng trống đêm xuân”, “Xuân nhớ miền Nam”, “Thư Tết”… sau này, mùa Xuân luôn là nguồn cảm hứng vô tận của nhà thơ.
Nhà nghiên cứu phê bình Đỗ Đình Thọ từng nhận định: “Trong các nhà thơ thời hiện đại, có lẽ Nguyễn Bính là một trong những người viết nhiều thơ xuân vào bậc nhất. Từ khi bắt đầu làm thơ (1936) đến lúc qua đời (1966), Nguyễn Bính đã viết trên ba chục bài thơ xuân”…
Ngược dòng thi ca dân tộc, đã có biết bao nhà thơ với những áng thơ xuân tuyệt tác làm say lòng bạn đọc. Cùng thời với Nguyễn Bính, nhà thơ Đoàn Văn Cừ cũng viết rất nhiều, rất hay về mùa Xuân. Đến nỗi, nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng phải thốt lên rằng: “Nghĩ đến Đoàn Văn Cừ là tôi lại nghĩ đến Tết. Cái tên Đoàn Văn Cừ trong tâm trí tôi đã lẫn với màu bánh chưng, mùi thuốc pháo, vị mứt gừng”. Nhưng trong biết bao nhiêu sắc màu thơ xuân rực rỡ ấy, những thi phẩm về mùa xuân của Nguyễn Bính vẫn có nét đẹp riêng không dễ gì lẫn được. Đối với ông, mùa Xuân lúc nào cũng thật tươi non, tinh khôi, mới mẻ, bởi “Mùa Xuân là cả một mùa xanh”. Ông yêu mùa Xuân nhiều khi đến ngỡ lừng, phải bật ra lời cảm thán: “Xuân sang xao xuyến lòng tôi quá”. Mùa Xuân trong thơ Nguyễn Bính đa phần là cảnh sắc mộc mạc thấm đẫm hương đồng gió nội nơi thôn dã của vùng Đồng bằng Bắc Bộ, đánh thức hồn quê, tình quê và gợi nhắc những gì thân thương nhất đối với mỗi người.
Đọc thơ xuân Nguyễn Bính, mỗi chúng ta như sống lại những ngày Tết cổ truyền, những ngày hội xuân, những đêm hát chèo cùng rất nhiều tín ngưỡng tôn giáo và phong tục tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam. Ở đó có rung động tình yêu tuổi trẻ và biết bao náo nức của cô thiếu nữ mong chờ được gặp người yêu ở hội làng: “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy/ Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ/ Mẹ bảo: thôn Đoài hát tối nay” (Mưa xuân).
Ở đó, thiên nhiên, đất trời, con người đều bừng lên sức sống và bao sắc màu tươi thắm khi xuân về: “Từng đàn con trẻ chạy xun xoe/ Mưa tạnh, trời quang nắng mới hoe/ Lá nõn nhành non ai tráng bạc/ Gió về từng trận, gió bay đi/ Thong thả nhân gian nghỉ việc đồng/ Lúa thì con gái mượt như nhung/ Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng/ Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng” (Xuân về). Có những khung cảnh làng quê đẹp bình yên và thơ mộng như một bức tranh lụa: “Tháng Giêng vừa Tết đầu xuân/ Xanh um lá mạ, trắng ngần hoa cam/ Mưa xuân rắc bụi quanh làng/ Bà già sắm sửa hành trang đi chùa/ Ông già vào núi đề thơ/ Trai tơ đình đám, gái tơ hội hè” (Tỳ bà truyện)...
Nguyễn Bính không chỉ giỏi miêu tả cảnh vật mà còn có biệt tài tạo không khí, gợi tình người và rất am hiểu, khéo léo khi đặc tả những nét văn hóa làng quê qua cách ăn mặc, nét dáng bên ngoài của người quê trong những bức tranh mùa Xuân: “Trên đường cát mịn một đôi cô/ Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa/ Gậy trúc dắt bà già tóc bạc/ Tay lần tràng hạt, miệng nam mô” (Xuân về)…
Đặc biệt, trong bài thơ “Tết của mẹ tôi”, với 52 câu thơ, Nguyễn Bính đã gợi được không khí, hương vị đặc trưng của ngày Tết, những tập tục đã có truyền thống lâu đời và khung cảnh gia đình đầm ấm nhờ đôi tay tần tảo, thu vén, sự chu đáo của người mẹ: “Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều/ Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều”, từ khâu trang hoàng nhà cửa, sắm sửa lo toan chuẩn bị cho một cái Tết đủ đầy: “Sân gạch tường hoa người quét lại/ Vẽ cung trừ quỷ, giồng cây nêu/ Nuôi hai con lợn tự ngày xưa/ Mẹ tôi đã tính “Tết thì vừa”/ Trữ gạo nếp thơm, mo gói bó/ Dọn nhà, dọn cửa, rửa ban thờ”.
Sau bao nhiêu tất bật, háo hức, trong ngày đầu năm mới mở ra bao dự định, khát vọng, mẹ còn chú ý gìn giữ những phong tục, truyền thống tốt đẹp để gia đình cả năm được bình an, may mắn: “Sáng nay mồng một sớm tinh sương/ Mẹ tôi cấm chúng tôi ra đường/ Mở hàng mỗi đứa năm xu rưỡi/ Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương”.
Mùa Xuân là mùa của nhà nhà, người người đoàn viên, hội tụ, sum vầy trong không khí gia đình đầm ấm. Nhưng trong cuộc đời, Nguyễn Bính có gần 20 năm phải tha hương, xa gia đình. Hơn 10 tuổi, Nguyễn Bính đã phải theo anh trai là Trúc Đường ra Hà Đông, Hà Nội kiếm sống. Từ Hà Nội nghìn năm văn hiến, lúc ngược tàu lên Phú Thọ, đến Cố đô Huế cổ kính rồi dời vào Sài Thành hoa lệ. Sau 9 năm tham gia kháng chiến ở Nam Bộ (1946-1954), ông mới tập kết ra Bắc.
Chính điều đó đã cho ông nhiều cảm xúc để viết những bài thơ xuân chan chứa nỗi niềm khi xa quê. Trong bài “Xuân về nhớ cố hương”, ông ngậm ngùi: “Lênh đênh tóc rối cỏ bồng/ Chiều ba mươi Tết ai không nhớ nhà”; ở bài “Xuân tha hương”, thi sĩ 7 lần nhắc lại câu “Tết này chưa chắc em về được” khi viết: “Tết này chưa chắc em về được/ Em gửi về đây một tấm lòng/ Chao ôi! Tết đến mà không được/ Trông thấy quê hương thật não nùng”. Còn trong bài “Xuân vẫn tha hương”, nhà thơ xót xa khi: “Bốn bể vẫn chưa yên sóng gió/ Xuân này em chị vẫn tha hương/ Vẫn ăn cái Tết ngoài thiên hạ/ Son sắt say hoài rượu bốn phương”.
Vậy nên, năm 1957, khi được trở lại quê hương vào một ngày xuân sau bao năm xa cách, những vần thơ của ông như cũng náo nức reo vui: “Xuân này vui Tết lại vui quê/ Lại chuyện làm ăn, chuyện hội hè/ Xanh biếc đầu xuân, nương mạ sớm/ Giậu tầm xuân nở, bướm vàng hoe/ Vào đám làng tôi mở trống chèo/ Bay cờ, lộn gió, đỏ đuôi nheo”. Và khi nhà thơ tạm biệt quê hương, tiếp tục cho những chuyến đi, mùa Xuân cũng như lưu luyến bước chân người: “Bữa ấy tôi đi nắng ửng vàng/ Bời bời ngõ cũ tím hoa xoan”…
Đúng như nhà phê bình văn học Lê Tiến Dũng từng viết: Mùa Xuân như là một “định mệnh” đầy duyên nợ với nhà thơ Nguyễn Bính. Ông cất tiếng khóc chào đời vào một ngày đầu xuân năm Mậu Ngọ (1918) và ra đi vào đúng ngày 29 Tết năm Ất Tỵ (1965), khi một mùa Xuân mới chưa kịp đến. Nhưng với những tuyệt tác thơ xuân, ông đã để lại cho đời, cho người yêu thơ những mùa Xuân trọn vẹn, đúng như câu thơ đầy dự cảm ông viết trong bài “Nhạc xuân”: “Năm mới, tháng Giêng mồng một Tết/ Còn nguyên vẹn cả một mùa Xuân”.









