
Trong lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX, Văn Cao (1923-1995) là một nghệ sĩ hiếm hoi đạt tới tầm vóc toàn diện và tiên phong trên nhiều lĩnh vực âm nhạc, hội họa, văn xuôi, thơ. Nhưng mọi người nhớ và biết về ông nhiều hơn cả với tư cách là một nhạc sĩ rất mực tài hoa, tác giả của “Tiến quân ca” - ca khúc đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định lựa chọn làm Quốc ca.
Ngay từ trước Cách mạng Tháng Tám, Văn Cao đã là một nhạc sĩ tài danh với những ca khúc trữ tình nổi tiếng. Từ bài hát đầu tay của ông viết năm 1939 khi mới 16 tuổi “Buồn tàn thu” được đánh giá là tuyệt tác của nền tân nhạc, đã bộc lộ tài năng âm nhạc của ông. Tiếp sau đó là những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng với ca từ đạt đến độ hoàn mỹ của “Thiên thai”, “Suối Mơ”, “Trương Chi”, “Bến xuân”, “Cung đàn xưa”, “Đàn chim Việt”... Sau khi tham gia Việt Minh, ông đã viết hàng loạt ca khúc: “Chiến sĩ Việt Nam", “Bắc Sơn”, “Không quân Việt Nam”, “Hải quân Việt Nam”, “Công nhân Việt Nam”, “Làng tôi”, “Ngày mùa”, “Tiến về Hà Nội”, “Ca ngợi Hồ Chủ tịch”… Trong đó, năm 1947, sau chiến thắng sông Lô, ông viết “Trường ca sông Lô” được đánh giá là một tác phẩm vĩ đại. Đặc biệt, ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” (1976) của ông đã làm rung động tâm hồn bao thế hệ người Việt. Nhạc sĩ Văn Cao đã được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất (1993) và truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt 1 (năm 1996).
Nhạc sĩ Văn Ký (1928-2020), tác giả của những ca khúc nổi tiếng như “Bài ca hy vọng”, “Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi”, “Nha Trang mùa thu lại về”, “Trời Hà Nội xanh”... sinh ra tại xóm Nhì, xã Liên Minh. Cha mất sớm nên ông sống cùng người chú rất mê văn học tại xứ Thanh. Ông tham gia cách mạng khi mới 15 tuổi. Năm 18 tuổi, Văn Ký được kết nạp Đảng và được cử làm Huyện đội trưởng Nông Cống. Sau khi sáng tác ca khúc đầu tay “Trăng xưa”, nhận ra khả năng văn nghệ của Văn Ký, cấp trên cử ông đi học lớp âm nhạc của Liên khu IV ở Nghệ An. Sau 6 tháng học tập, ông bắt đầu tham gia chiến đấu ở mặt trận Bình Trị Thiên khói lửa, vừa đánh giặc, vừa tích cực hoạt động văn nghệ phục vụ chiến sĩ, đồng bào. Năm 1955, ông về ban nhạc Hội Văn nghệ Việt Nam, cùng một số văn nghệ sĩ khác tham gia thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam (1957).
Nhắc tới sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Văn Ký phải kể tới ca khúc để đời “Bài ca hi vọng”. Dù ra đời cách đây gần 70 năm, bài hát vẫn luôn nhận được sự yêu mến của khán giả. Chia sẻ về hoàn cảnh ra đời bài hát, nhạc sĩ Văn Ký từng tâm sự: “Năm 1958, đất nước rơi vào hoàn cảnh khó khăn, không ít người bi quan, hoang mang trước tương lai đất nước. Tôi chỉ muốn khẳng định điều mà mình đã suy nghĩ sâu sắc và tin tưởng, rằng cách mạng sẽ nhất định thắng lợi. Vào một ngày giáp Tết, khi mùa xuân đang đến gần, qua cửa sổ phòng làm việc, tôi bắt gặp bầu trời xanh tới ngỡ ngàng. Niềm tin vào tương lai tươi sáng trong tôi trào dâng và tôi đặt bút viết những giai điệu đầu tiên: “Từng đôi chim bay đi, tiếng ca rộn ràng/ Cánh chim xao xuyến gió mùa xuân/ Gửi lời chim yêu thương tới miền Nam quê hương/ Nhắn rằng ta ngày đêm mong nhớ”… Trong những năm tháng chiến tranh, nơi ngục tù tăm tối, vượt lên những đòn roi tra tấn dã man của quân thù, nhiều chiến sĩ đã cất cao bài hát "Bài ca hi vọng" để động viên tinh thần chiến đấu của mình và đồng đội. 60 năm cần mẫn, gắn bó với âm nhạc, nhạc sĩ Văn Ký đã có được một sự nghiệp đáng nể với hơn 400 ca khúc và đề tài cách mạng, ca ngợi quê hương đất nước và nhiều tác phẩm khí nhạc mang phong cách mà nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát từng nhận xét là “sở trường về giai điệu đẹp, hùng tráng, trữ tình”.
3 anh em nhà văn họ Vũ (Vũ Cao, Vũ Ngọc Bình, Vũ Tú Nam) sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống văn chương, sau này đều là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Vũ Cao (1922-2007) tham gia quân đội từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, là phóng viên Báo Vệ quốc quân, sau đó là Báo Quân đội nhân dân; biên tập viên, Phó Tổng Biên tập, sau là Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông còn đảm nhận chức vụ Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội.
Trong sự nghiệp của mình, ông đã sáng tác 3 tập thơ, 5 tập văn xuôi. Đặc biệt, nhắc đến ông mọi người đều nhớ tới bài thơ “Núi Đôi” sáng tác năm 1956, được nhiều thế hệ bạn đọc yêu thích. Nhà văn Vũ Cao vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001. Nhà văn Vũ Ngọc Bình (1925-2016) là dịch giả của những tác phẩm dịch cho thiếu nhi như: “Chuyện phiêu lưu của Mít Đặc và các bạn”, “Chiếc hài cườm pha lê”, “Người báo tín hiệu và người thổi kèn hiệu”. Đồng thời, ông còn viết rất nhiều thơ cho lứa tuổi măng non. Gần 30 năm công tác ở Nhà xuất bản Kim Đồng, ngoài nhiệm vụ biên tập, dịch thuật, nhà văn Vũ Ngọc Bình đã góp công lao không nhỏ vào việc xây dựng tủ sách hay cho thiếu nhi.
Còn nhà văn Vũ Tú Nam (1929-2020) làm công tác báo chí, văn nghệ trong quân đội (từ năm 1947-1958). Từ năm 1959-1995, ông lần lượt làm Thư ký Tòa soạn Báo Văn học, Thư ký Tòa soạn Báo Văn nghệ, Giám đốc Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Tổng thư ký Hội Nhạc văn Việt Nam khóa IV, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III, IV. Ông từng là đại biểu Quốc hội khóa IX. Nhà văn Vũ Tú Nam vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001…
Có thể thấy, từ nhạc sĩ Văn Cao với những tác phẩm âm nhạc đi cùng lịch sử dân tộc, nhạc sĩ Văn Ký với những giai điệu trữ tình, sâu lắng đến ba anh em nhà văn họ Vũ với dấu ấn riêng trong đời sống văn chương, mỗi con người tài hoa ấy đều mang trong mình nét bản sắc văn hóa của quê hương Liên Minh. Thành công của họ cũng là niềm tự hào chung, góp phần làm rạng danh mảnh đất đã nuôi dưỡng, bồi đắp tâm hồn, hun đúc nên những tài năng văn hóa lớn của đất nước.









