
Bố mẹ tôi là nông dân vùng trồng rau sạch truyền thống lâu đời. Với tôi, bố luôn là người gieo hạt giống giỏi nhất làng, chịu thương chịu khó trồng trọt để hòa cùng nhịp sống của làng, mang cho cộng đồng những bữa ăn ngon, mang xuân ấm về cho các con. Người trồng rau làm lụng quanh năm, nhưng lời lãi nhất là dịp Tết. Vụ rau Tết tính từ rằm tháng Chạp đến rằm tháng Giêng, nhưng thu nhập cao nhất là ba ngày cuối cùng của năm âm lịch. Với người quê tôi, vào những ngày đó dân tình dùng nhiều rau xanh nhất, còn tích trữ làm cỗ bàn cho ngày Tết.
Ngày xưa không có ô tô, xe máy, người bán rau đều sử dụng xe đạp để thồ rau ra chợ. Rau gồm su hào, bắp cải, các loại củ, quả, rau thơm… được thu hoạch từ chiều, về chất xe đỗ ở đầu ngõ. Cứ hai giờ sáng hôm sau, lúc màn đêm buông xuống, sương xuống dày, người làng trở dậy để thồ những xe rau cao quá đầu người đến chợ. Mỗi xe đều có chiếc đèn bão chằng vào một bên sọt soi đường, xe sau soi cho xe trước. Dàn xe thồ cứ thế nối đuôi nhau ra khỏi làng, đông như đi hội, rồi tỏa ra các hướng chợ xa chợ gần. Bước chân người dân vốn quen nhọc nhằn, cứ vững chãi đạp lên mặt đường gập ghềnh, vượt cả vài chục cây số để đến với các chợ quê mộc mạc.
Tuổi ấu thơ, tôi thường có những lần hì hụi đẩy xe cùng bố lội màn đêm đi về những phiên chợ Tết sớm. Bố thường dặn tôi, bán hàng thì đúng giá, không nói thách. Gặp các cụ già thì phải lấy rẻ hơn. Lớn lên tôi tự mình thồ những sản vật của vườn tược ruộng đồng một nắng hai sương với tâm trạng hồ hởi. Ngày đó, người dân thường lấy độ cao của những chiếc xe thồ hàng làm tín hiệu cho ngày Tết. Xe rau chất càng cao thì có nghĩa rau tiêu thụ được nhiều, đắt hàng, niềm vui in trên mặt người đi chợ, thắp nơi tim của những chiếc đèn bão, xuân đó sẽ vui hơn, ấm hơn. Bán được rau, nhà nào cũng sẽ rủng rỉnh sắm quần áo mới cho con cái, mua bánh kẹo, mứt Tết, chuẩn bị gạo thịt gói bánh chưng…
Một phiên ngồi bán rau ngoài chợ ngã tư thôn Nam Quất (ngoại thành Hà Nội), cách làng tôi chừng mười cây số. Gần trưa mà tôi còn ế ít rau. Phía bên kia cậu bạn bán hoa cúc co ro đợi chờ. Vì hoa của cậu không đẹp bằng những hàng bên cạnh, nên cả buổi sáng mới chỉ bán được một chậu. Cậu nhìn sang tôi, khuôn mặt phảng phất lo lắng. Tôi tiến lại và ngỏ ý muốn mua giúp cậu hai chậu cúc. Cậu rất vui và nói sẽ mua nốt mấy cây bắp cải của tôi. Tôi đã nhanh trí tặng cậu. Một hồi lưỡng lự, cậu cũng nhận.
Phiên chợ sau, chúng tôi cùng tâm sự. Tôi biết một chân cậu bị tật, đi tập tễnh, nhà cậu ấy rất nghèo và những cây bắp cải hôm đó tôi tặng trở thành món quà quý cho gia đình cậu. Cậu rất cảm kích khi biết tôi chịu học, biết đỡ đần bố mẹ bán rau để trang trải cuộc sống. Rồi cậu đã nỗ lực cố gắng thoát nghèo, mở cửa hàng ở ngay góc chợ nơi tôi và cậu từng có kỷ niệm với nhau. Sau này tôi có về thăm. Với bên chân bị tật, cậu bước vào đời, có cuộc sống ổn định bên vợ con, tích cực làm thiện nguyện. Mỗi khi nhớ về những kỷ niệm với người bạn ấy, trong tôi lại ào về niềm tự hào và những phiên chợ sẻ chia khó nguôi quên.
Bây giờ làng đã nhiều người có xe máy, thậm chí sắm ô tô chở rau ra chợ. Bố tôi chủ yếu làm vườn ở nhà. Vào phiên chợ cuối cùng của năm mới, bố sẽ đi một chuyến “giữ ký ức”, để nhớ về thời gian khó. Bố vẫn giữ cây đèn bão, chiếc xe thồ, được gọi là “con ngựa sắt” và nhắc nhở con cháu sống hòa nhập, quý công sức lao động, chia sẻ, nhớ một thời những hiện vật thân thương đã cùng chủ dầm mưa dãi nắng. Chiếc đèn là vật “chỉ đường” cho “con ngựa sắt” thồ hàng, song hành chở khát vọng, nuôi nấng người làng, nuôi nấng những ước mơ học hành. Tết cũng từ đó mà ra.
Năm nào cũng vậy, trước Tết chục ngày, bố tra dầu nhớt vào chiếc xe đạp thồ, giúp những vòng quay trơn tru, rồi khơi lại bấc đèn chuẩn bị cho phiên cuối năm. Ngày nay, cây đèn và chiếc xe thồ đã trở nên lạc lõng giữa những tấp nập chợ đông đúc, có khi vội vàng. Nhưng sự cũ kỹ của chúng trong thời hiện đại lại nhắc nhở với người hôm nay về những điều rất mới: Con người ta không thể sống thiếu ký ức, kể cả đón Tết. Và tôi cũng bất ngờ khi bố kể lại, chính cậu bạn dáng đi tập tễnh, có cái tên rất đẹp là Minh, đã gặp bố, kể về cuộc gặp của tôi và Minh. “Chú có cậu con rất tuyệt vời. Chính bạn ấy đã tiếp thêm nghị lực cho cháu, cháu không còn mặc cảm về bên chân dị tật nữa”.
Tôi về quê khi lòng xốn xang vui. Ngoài vườn rau, mẹ chia sẻ với láng giềng những món rau của mình, kể cả những bó hoa xinh, để hương xuân lan tỏa đến nhiều người. Bố mẹ gọi đó là “vườn nghĩa tình”. Khi chia sẻ rau và hoa xuân, là lúc bố mẹ nhớ ơn những người đã đỡ đần mình lúc cơ hàn. Tôi lại chạm và cây đèn bão và thấy mình đang chạm vào mạch xuân sáng, trong không gian xanh giản dị, ấm nồng.









