Tiền đề lịch sử định hình, xây dựng Đô thị Di sản thiên niên kỷ
Trong tiến trình phát triển đô thị Việt Nam, hiếm có không gian nào mang tính liên tục lịch sử rõ nét như Hoa Lư. Từ góc nhìn của khoa học lịch sử và đô thị học, vùng đất này không chỉ là Kinh đô của Nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền đầu tiên của Việt Nam mà còn là một dạng thức đô thị trung đại sớm, hội tụ đầy đủ các yếu tố của một trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa.
Theo nghiên cứu của GS.TS - Nhà giáo nhân dân Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam: Ngay từ cuối thế kỷ X, Hoa Lư đã hình thành cấu trúc đô thị tương đối hoàn chỉnh, với sự hiện diện của cư dân phi nông nghiệp, hệ thống giao thông thủy - bộ phát triển, cùng các hoạt động giao thương sôi động. Những tuyến kết nối nội vùng và liên vùng đã mở ra mạng lưới chợ, bến, cảng thị dọc theo các dòng sông, tạo nên một không gian kinh tế năng động. Đáng chú ý, sự xuất hiện thường xuyên của thuyền buôn từ Trung Quốc, Chămpa và khu vực Đông Nam Á cho thấy Hoa Lư không chỉ là trung tâm quyền lực chính trị, mà còn là một điểm giao thương quan trọng trong khu vực.
Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng từng lý giải sự hình thành của Hoa Lư là từ chính đặc điểm địa - chính trị, địa - văn hóa của vùng đất “bản lề”, “quá độ” và “liền khoảnh”. Với tầm nhìn chiến lược của một nhà quân sự, nhà chính trị lớn, Đức Đinh Tiên Hoàng Đế đã sớm nhận ra và khai thác triệt để những lợi thế đặc biệt của vùng đất này để xây dựng Kinh đô đúng tầm của một Nhà nước quân chủ tập trung đang trên bước đường khẳng định vị thế của mình. Đô thị Hoa Lư vì thế đã dần dần trở thành đô thị trung đại sớm nhất và tiêu biểu nhất của quốc gia Đại Việt khi đó.
Điểm đặc biệt của đô thị Hoa Lư nằm ở tính liên tục hiếm có. Sau khi dời đô, nhiều kinh đô cổ trên thế giới dần trở thành phế tích, nhưng Hoa Lư lại tồn tại theo một cách khác: tính chất đô thị không bị triệt tiêu, mà chuyển hóa, hòa nhập vào cấu trúc làng xã, tiếp tục tồn tại trong không gian văn hóa - xã hội của địa phương. Theo thời gian, yếu tố đô thị có thể “ẩn mình” trong nông thôn, nhưng vị thế của một kinh đô vẫn được khẳng định như một phần của ký ức lịch sử và bản sắc dân tộc.
Chính yếu tố “liên tục, không đứt gãy” này tạo nên cơ sở khoa học đặc biệt cho việc định hình mô hình Đô thị Di sản thiên niên kỷ. Đây không phải là sự phục dựng một đô thị đã mất, mà là kế thừa một cấu trúc đô thị đã tồn tại, đã được lịch sử kiểm chứng và vẫn đang tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại. Trên nền tảng đó, Quy hoạch Tràng An - Tam Cốc - Bích Động đã cụ thể hóa cấu trúc phát triển này. Với tổng diện tích hơn 9.600ha, bao gồm vùng lõi và vùng đệm được phân định rõ ràng, quy hoạch xác lập một không gian phát triển dựa trên di sản, trong đó vùng lõi được bảo vệ nghiêm ngặt, vùng đệm phát triển có kiểm soát, bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.
Các nguyên tắc như bảo tồn cảnh quan tự nhiên, giữ nguyên cấu trúc làng truyền thống, kiểm soát xây dựng và phát triển du lịch sinh thái… không chỉ nhằm bảo vệ di sản, mà còn duy trì tính liên tục không gian của đô thị Hoa Lư trong hiện tại. Quy hoạch Tràng An - Tam Cốc - Bích Động cho thấy, Ninh Bình đã biết dựa vào chính các giá trị nổi bật của đô thành - đế đô đầu tiên của quốc gia Đại Việt để tạo dựng nguồn lực, động lực và lợi thế căn bản cho phát triển. Ở tầm chiến lược, điều này hoàn toàn phù hợp với định hướng của tỉnh Ninh Bình: phát triển đô thị theo hướng xanh, hài hòa, giàu bản sắc, lấy di sản làm trục giá trị cốt lõi. Như vậy, lựa chọn xây dựng Đô thị Di sản thiên niên kỷ không phải là một ý tưởng mới, mà là sự tiếp nối logic phát triển đã được hình thành từ chính đô thị Hoa Lư trong lịch sử.
Từ nhận thức lý luận đến quyết tâm chính trị và hành động thực tiễn
Từ nền tảng lịch sử và quy hoạch, Ninh Bình đã thể chế hóa bằng các quyết sách mang tính chiến lược. Trước hết, cần khẳng định: Đô thị Di sản thiên niên kỷ không đơn thuần là đô thị có di sản, mà là một mô hình phát triển trong đó di sản giữ vai trò trung tâm, chi phối cấu trúc không gian, định hướng kinh tế và định hình bản sắc xã hội. “Thiên niên kỷ” không chỉ là độ dài lịch sử, mà còn là sự trường tồn của tính chất đô thị như một dạng phát triển liên tục, không bị đứt gãy. Sự lựa chọn mô hình này còn mang ý nghĩa giải pháp cho những thách thức toàn cầu về đô thị hóa. Thay vì đô thị nén, bê tông hóa, Ninh Bình lựa chọn mô hình “đô thị công viên”, nơi các không gian di sản, văn hóa, sáng tạo và làng nghề được tổ chức hài hòa, phục vụ cho kinh tế xanh và công nghiệp văn hóa.
Quyết tâm hiện thực hóa mô hình này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 05-NQ/ TU ngày 30/1/2026 của Tỉnh ủy về xây dựng Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030. Nghị quyết xác định đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, đòi hỏi tư duy đột phá, cách làm riêng và cơ chế chính sách đặc thù. Trong đó, Đô thị Di sản thiên niên kỷ được xác lập là đặc trưng cốt lõi, với yêu cầu bảo tồn nguyên vẹn khu vực lõi lịch sử, kết hợp hài hòa với không gian sinh thái và phát triển hiện đại.
Không chỉ dừng ở định hướng, Nghị quyết còn cụ thể hóa bằng các mục tiêu phát triển rõ ràng: Xây dựng đô thị loại I, phát triển kinh tế dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và lấy con người làm trung tâm. Điều này cho thấy mô hình Đô thị Di sản thiên niên kỷ không phải là khái niệm mang tính biểu tượng, mà là một chương trình phát triển có cấu trúc, có lộ trình và có khả năng thực thi.
Cách tiếp cận “giải nén đô thị”, giảm áp lực lên di sản và môi trường, đồng thời tạo ra một không gian sống bền vững cũng được đề cập cụ thể tại Quy hoạch bảo quản, tu bổ và phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Tràng An - Tam Cốc - Bích Động. Theo đó, giải pháp quy hoạch và phát triển không gian đã xác định rõ nguyên tắc quản lý theo phân vùng quy hoạch, gắn với việc nâng cao hiệu lực giám sát triển khai quy hoạch sử dụng đất trong toàn bộ khu vực Tràng An - Tam Cốc - Bích Động. Việc triển khai Quy hoạch bảo quản, tu bổ và phục hồi danh thắng được đặt trong tổng thể Quy hoạch tỉnh, đồng thời bám sát định hướng xây dựng Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương với đặc trưng Đô thị Di sản thiên niên kỷ, qua đó bảo đảm tính toàn vẹn của Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An.
Trọng tâm của giải pháp là thực hiện phân vùng quản lý nghiêm ngặt; xác định rõ các khu vực cấm xây dựng hoặc hạn chế xây dựng. Song song với đó, việc tổ gian phát triển du lịch cũng được định hướng theo hướng bền vững, có kiểm soát. Các khu dịch vụ, khu dân cư du lịch sinh thái quy mô nhỏ được bố trí tại vùng đệm, tập trung phát triển các mô hình trải nghiệm, lưu trú homestay gắn với cộng đồng, qua đó tạo sinh kế ổn định cho người dân địa phương. Việc ưu tiên sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, có nguồn gốc địa phương được nhấn mạnh như một giải pháp hạn chế xu hướng “bê tông hóa”, góp phần giữ gìn bản sắc cảnh quan và nâng cao giá trị bền vững của không gian di sản.
Quy hoạch Tràng An - Tam Cốc - Bích Động chính là quyết tâm chính trị nhằm thiết lập nguyên tắc “bảo tồn toàn vẹn - phát triển hài hòa - cộng đồng đồng hành”. Đây chính là cách tiếp cận mang tính hệ thống, bảo đảm cho di sản không bị khai thác quá mức, mà trở thành nguồn lực phát triển bền vững. Tại Lễ kỷ niệm 10 năm Quần thể danh thắng Tràng An được UNESCO ghi danh là Di sản thế giới, bà Simona Mirela Miculescu, Chủ tịch Đại hội đồng UNESCO lần thứ 42 đã khẳng định: “Khi hạnh phúc của người dân được đặt lên hàng đầu, Tràng An nổi lên như một tấm gương sáng về cảm hứng và tinh thần đổi mới, sáng tạo. Thành tựu này là kết quả nỗ lực chung của tất cả chúng ta trong việc khai phóng sức mạnh của di sản để làm phong phú thêm cuộc sống của cả thế hệ hiện tại và nhiều thế hệ trong tương lai”.
Điều này cho thấy Quyết định số 705/QĐTTg về Quy hoạch bảo quản, tu bổ và phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Tràng An - Tam Cốc - Bích Động vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là tầm nhìn chiến lược, khung pháp lý quan trọng để Ninh Bình kiến tạo xây dựng một mô hình đô thị khác biệt: Đô thị Di sản thiên niên kỷ. Trong đó di sản Tràng An đóng vai trò hạt nhân, trục dẫn dắt, là nguồn lực nội sinh có khả năng tái tạo và lan tỏa giá trị. Với quy hoạch này, Ninh Bình không chỉ hoạch định tương lai đô thị một cách bền vững và đầy tính nhân văn mà còn góp phần định hình tương lai phát triển đô thị Việt Nam trên bản đồ thế giới.