
Bước vào giai đoạn phát triển mới của đất nước, đặc biệt sau Đại hội XIV của Đảng, yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng được đặt ra ngày càng cấp thiết. Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xây dựng nền quản trị quốc gia và quản trị địa phương hiện đại, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chuyển đổi số và xã hội số đang tạo ra những điều kiện, yêu cầu và thách thức mới đối với hoạt động lãnh đạo của các tổ chức đảng ở cơ sở. Trong bối cảnh đó, phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã cần tiếp tục được đổi mới theo hướng khoa học, dân chủ, hiện đại, bảo đảm phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực cầm quyền, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân và đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong điều kiện mới.
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy tổ chức đảng ở cấp xã đã có nhiều đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của quá trình phát triển đất nước, việc tiếp tục nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã vẫn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết hiện nay.
Quan điểm của Đảng về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã trong giai đoạn hiện nay
Phương thức lãnh đạo của Đảng là một trong những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao năng lực cầm quyền trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức lãnh đạo được thực hiện thông qua cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết; thông qua công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát; thông qua sự nêu gương của cán bộ, đảng viên và hoạt động của các tổ chức đảng trong hệ thống chính trị. Ở cấp xã, phương thức lãnh đạo của Đảng được thực hiện trực tiếp thông qua đảng bộ, chi bộ, đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ, đảng viên và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân.
Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn với nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Đại hội nhấn mạnh nhiệm vụ tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị theo hướng khoa học, dân chủ, sát thực tiễn; tăng cường kiểm soát quyền lực; phát huy vai trò, trách nhiệm và tính chủ động của các chủ thể trong hệ thống chính trị. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để các tổ chức đảng ở cơ sở tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động trong điều kiện mới.
Các nghị quyết và quy định của Trung ương ban hành sau Đại hội XIII tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức của Đảng về phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền. Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt ra yêu cầu phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực chặt chẽ; đề cao trách nhiệm giải trình; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân. Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong môi trường số, nâng cao chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo dựa trên dữ liệu và công nghệ. Những quan điểm đó không chỉ tác động đến hoạt động của bộ máy nhà nước mà còn đặt ra những yêu cầu mới đối với phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở.
Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền. Đại hội xác định yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm soát quyền lực; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và quản trị địa phương; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của hệ thống chính trị. Đây là những định hướng có ý nghĩa trực tiếp đối với việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã trong giai đoạn hiện nay.

Các chủ trương mới của Trung ương về sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang đặt ra những yêu cầu mới đối với phương thức lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Việc mở rộng quy mô đơn vị hành chính, tăng quy mô dân số và phạm vi quản lý của cấp xã đòi hỏi các tổ chức đảng phải nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực tổ chức thực hiện và năng lực cầm quyền; đồng thời tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, dân chủ, hiện đại, phát huy tính chủ động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của Nhân dân.
Từ các văn kiện của Đảng ban hành trong thời gian gần đây có thể thấy, nhận thức của Đảng về phương thức lãnh đạo ở cấp xã đang có sự phát triển quan trọng. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu đặt vào yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng thì hiện nay Đảng nhấn mạnh đồng thời yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền; nâng cao cả năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Cùng với đó, các yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường trách nhiệm giải trình, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao chất lượng quản trị địa phương đang tạo ra những nội dung mới và yêu cầu mới đối với phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã. Đây chính là cơ sở lý luận và chính trị quan trọng để đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã trong giai đoạn hiện nay.
Thực trạng phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã hiện nay
Những năm gần đây, đặc biệt từ sau Đại hội XIII của Đảng và quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã tiếp tục có nhiều đổi mới, từng bước thích ứng với yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng ở cơ sở.
Trước hết, phương thức lãnh đạo thông qua quán triệt, tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng tiếp tục được đổi mới theo hướng mở rộng phạm vi, tăng cường tính kịp thời và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số. Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng được tổ chức tới 31.097 điểm cầu trên cả nước, trong đó có 30.994 điểm cầu cấp xã với 1.932.639 đại biểu tham dự[5]. Đây là quy mô triển khai lớn nhất từ trước đến nay, phản ánh năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, Hội nghị trực tuyến toàn quốc được tổ chức tới 13.346 điểm cầu với sự tham gia của 1.089.715 cán bộ, đảng viên; tỷ lệ đảng viên tham gia các đợt sinh hoạt chính trị ở nhiều địa phương đạt trên 97%, nhiều nơi đạt trên 99%. Đặc biệt, 100% cấp ủy đã xây dựng chương trình hành động và kế hoạch triển khai thực hiện nghị quyết[6]. Điều đó cho thấy năng lực đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống và khả năng tổ chức thực hiện ở cơ sở tiếp tục được nâng lên.
Phương thức lãnh đạo thông qua hệ thống nghị quyết, chương trình hành động, quy chế và kế hoạch công tác tiếp tục được tăng cường. Sau khi Nghị quyết số 21-NQ/TW được ban hành, các tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương đã ban hành trên 900 văn bản để cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương về xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên[7]. Nhiều cấp ủy đã chú trọng hơn việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, phân công trách nhiệm và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết. Điều này phản ánh xu hướng chuyển từ lãnh đạo chủ yếu bằng ban hành chủ trương sang lãnh đạo thông qua các chương trình hành động, kế hoạch thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát cụ thể.

Tổ chức đảng ở cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn, tạo nền tảng quan trọng cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo. Đến tháng 3 năm 2026, toàn Đảng có 54.601 tổ chức cơ sở đảng, gồm 14.930 đảng bộ cơ sở và 39.671 chi bộ cơ sở; cùng với đó là 214.490 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở[8]. Từ năm 2022 đến nay, toàn Đảng đã thực hiện kiện toàn, sắp xếp và tổ chức lại 47.750 tổ chức đảng. Riêng trong quá trình thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đã kết thúc hoạt động của 8.410 đảng bộ xã, phường, thị trấn để thành lập 3.321 đảng bộ xã, phường, đặc khu mới[9]. Đây là cuộc sắp xếp tổ chức đảng ở cơ sở có quy mô lớn nhất trong nhiều thập niên qua, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương.
Phương thức lãnh đạo thông qua xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên có nhiều đổi mới. Các mô hình “Chi bộ bốn tốt”, “Đảng bộ cơ sở bốn tốt”, “Đảng viên bốn tốt” được triển khai rộng rãi ở nhiều địa phương; nhiều mô hình mới như “Dân tin - Đảng cử”, “Đảng viên tự nhận công trình, phần việc khó”, “Đảng viên phụ trách hộ gia đình” bước đầu phát huy hiệu quả. Thông qua đó, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên được đề cao hơn, trách nhiệm của tổ chức đảng gắn chặt hơn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và sự hài lòng của Nhân dân.
Chất lượng sinh hoạt chi bộ từng bước được nâng lên. Nhiều chi bộ đã tăng cường sinh hoạt chuyên đề, gắn nội dung sinh hoạt với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị và giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn địa phương. Việc thực hiện Hướng dẫn số 12-HD/BTCTW và các mô hình “Chi bộ bốn tốt”, “Đảng bộ cơ sở bốn tốt” đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Tuy nhiên, chất lượng sinh hoạt chi bộ giữa các địa phương vẫn còn chênh lệch; ở một số nơi nội dung sinh hoạt còn nặng về triển khai công việc thường xuyên, chưa dành nhiều thời gian cho thảo luận các vấn đề phát triển địa phương và chưa phát huy đầy đủ tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu của tổ chức đảng.
Công tác kiểm tra, giám sát tiếp tục được tăng cường. Nhiều cấp ủy đã chủ động rà soát, bổ sung chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa và hằng năm; tập trung kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, quy chế làm việc, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và người đứng đầu. Tại xã Đại Đình (Phú Thọ), ngay trong năm đầu vận hành mô hình mới, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thực hiện 8 cuộc kiểm tra và 11 cuộc giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên. Qua đó, nhiều hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được phát hiện, chấn chỉnh kịp thời. Điều đó cho thấy phương thức lãnh đạo thông qua kiểm tra, giám sát ngày càng được coi trọng hơn trong hoạt động của tổ chức đảng ở cơ sở.
Chuyển đổi số đang từng bước tạo ra những thay đổi trong phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã. Nhiều địa phương đã triển khai hội nghị trực tuyến, hệ thống quản lý văn bản điện tử, sổ tay đảng viên điện tử và các nền tảng số phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Tại Thanh Hóa, sau một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, các cấp ủy đã tổ chức 09 hội nghị quán triệt nghị quyết với 278.934 lượt người tham gia; riêng các hội nghị trực tuyến toàn quốc đã kết nối tới 2.949 điểm cầu với 206.548 lượt người tham dự[10]. Tại phường Bỉm Sơn, Đảng ủy đã tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn về chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và sử dụng sổ tay đảng viên điện tử cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, từng bước hình thành môi trường lãnh đạo và điều hành trên nền tảng số. Điều đó cho thấy chuyển đổi số đang từng bước trở thành một bộ phận của phương thức lãnh đạo mới ở cơ sở.
Bên cạnh những kết quả đạt được, phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã vẫn còn một số hạn chế. Một số cấp ủy cơ sở còn gặp khó khăn trong việc cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành chương trình hành động và giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương; năng lực dự báo và xử lý các vấn đề mới phát sinh còn hạn chế. Báo cáo sơ kết một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp của Thanh Hóa cho thấy một số cấp ủy cơ sở còn lúng túng trong chuyển hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng thành các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể[11]. Chất lượng sinh hoạt chi bộ chưa đồng đều; việc ứng dụng công nghệ số trong hoạt động lãnh đạo còn chủ yếu phục vụ công tác hành chính, chưa thực sự hỗ trợ hiệu quả cho công tác hoạch định, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết. Công tác nắm bắt dư luận xã hội, đối thoại với Nhân dân và phản hồi các vấn đề phát sinh từ cơ sở tuy có chuyển biến nhưng chưa đồng đều giữa các địa phương.
Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Bên cạnh những khó khăn khách quan do quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nguyên nhân quan trọng là nhận thức của một số cấp ủy về đổi mới phương thức lãnh đạo chưa theo kịp yêu cầu mới; năng lực của đội ngũ cán bộ cấp ủy, nhất là bí thư chi bộ, còn chưa đồng đều; việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và dự báo những vấn đề mới phát sinh trong quá trình phát triển còn hạn chế.
Những vấn đề đặt ra đối với việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã
Từ thực trạng trên có thể thấy, việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang tạo ra những yêu cầu mới đối với phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về cơ cấu tổ chức mà còn là sự thay đổi về không gian lãnh đạo, quy mô lãnh đạo và yêu cầu lãnh đạo.
Trước hết, yêu cầu xây dựng nền quản trị địa phương hiện đại, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đòi hỏi phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã phải tiếp tục được đổi mới theo hướng nâng cao năng lực dự báo, hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả. Báo cáo số 109-BC/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương nhận định rằng việc thực hiện chính quyền địa phương hai cấp đã “mở rộng quy mô, phạm vi đối tượng, đặt ra yêu cầu và xu hướng phát triển mới đối với các loại hình tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên về năng lực quản trị, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện”[12]. Điều đó đòi hỏi các cấp ủy phải từng bước chuyển từ tư duy lãnh đạo thiên về xử lý công việc thường xuyên sang tư duy lãnh đạo dựa trên dự báo, dữ liệu, mục tiêu và kết quả.
Cùng với đó là yêu cầu nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và sinh hoạt chi bộ, bảo đảm chi bộ thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở; yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên, nhất là bí thư đảng ủy và bí thư chi bộ trong điều kiện quy mô địa bàn rộng hơn, dân số đông hơn và nhiệm vụ ngày càng phức tạp hơn.
Một yêu cầu quan trọng khác là tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng ở cơ sở theo hướng khoa học, dân chủ và hiệu quả hơn; làm rõ hơn mối quan hệ giữa lãnh đạo của Đảng với quản lý, điều hành của chính quyền; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của Nhân dân.
Đồng thời, cần tiếp tục đổi mới công tác dân vận trong điều kiện xã hội số; nâng cao năng lực nắm bắt, phân tích và xử lý thông tin xã hội; tăng cường đối thoại với Nhân dân và kịp thời phản hồi các vấn đề phát sinh từ cơ sở. Cùng với đó là yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn bộ quá trình lãnh đạo của tổ chức đảng ở cấp xã; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và uy tín của Đảng ở cơ sở trong giai đoạn mới.
Giải pháp tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã trong thời gian tới
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức về đổi mới phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng ở cấp xã.
Đổi mới phương thức lãnh đạo trước hết là đổi mới nhận thức. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đại hội XIII, Đại hội XIV và các nghị quyết, kết luận của Trung ương về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; nhận thức đầy đủ rằng đổi mới phương thức lãnh đạo không chỉ là đổi mới cách thức ban hành nghị quyết hay tổ chức thực hiện nhiệm vụ, mà là quá trình nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị ở cơ sở. Trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, cấp ủy các cấp cần chủ động thích ứng với những yêu cầu mới của quá trình phát triển, khắc phục tư duy lãnh đạo thiên về xử lý công việc thường xuyên, từng bước nâng cao năng lực dự báo, phát hiện và xử lý các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của tổ chức đảng ở cấp xã.
Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang tạo ra những thay đổi quan trọng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy, quy chế phối hợp giữa cấp ủy với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng chủ thể. Đồng thời, cần tiếp tục làm rõ hơn mối quan hệ giữa lãnh đạo của Đảng với quản lý, điều hành của chính quyền, phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng.
Ba là, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và sinh hoạt chi bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định chi bộ là nền tảng của Đảng, là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và gắn bó mật thiết với Nhân dân[13]. Vì vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã phải bắt đầu từ việc nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và chi bộ. Cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả các mô hình “Chi bộ bốn tốt”, “Đảng bộ cơ sở bốn tốt”; đổi mới nội dung sinh hoạt chi bộ theo hướng thiết thực, gắn với nhiệm vụ chính trị và những vấn đề thực tiễn của địa phương. Tăng cường sinh hoạt chuyên đề, nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình, phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng; bảo đảm chi bộ thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị, trung tâm đoàn kết và là cầu nối trực tiếp giữa Đảng với Nhân dân ở cơ sở.
Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên, nhất là bí thư đảng ủy và bí thư chi bộ.
Phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã được thực hiện trực tiếp thông qua đội ngũ cấp ủy viên và bí thư chi bộ. Do đó, cần tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng gắn với yêu cầu thực tiễn và những đòi hỏi mới của quá trình phát triển đất nước. Nội dung đào tạo cần chú trọng kỹ năng lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết, công tác dân vận, kỹ năng đối thoại xã hội, kỹ năng xử lý tình huống và ứng dụng công nghệ số trong công tác đảng. Đặc biệt, cần xây dựng đội ngũ bí thư chi bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới, năng lực tập hợp quần chúng, khả năng phát hiện và giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn; đồng thời quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ để tạo nguồn cán bộ lãnh đạo cho hệ thống chính trị ở cơ sở.
Năm là, đổi mới việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết theo tinh thần quản trị hiện đại.
Nghị quyết là công cụ lãnh đạo quan trọng hàng đầu của Đảng. Trong điều kiện hiện nay, việc xây dựng nghị quyết cần xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và những vấn đề đặt ra từ cơ sở; bảo đảm nghị quyết có mục tiêu rõ ràng, nhiệm vụ cụ thể, lộ trình khả thi và tiêu chí đánh giá minh bạch. Cùng với đổi mới việc xây dựng nghị quyết, cần đổi mới mạnh mẽ khâu tổ chức thực hiện theo hướng đề cao trách nhiệm, hiệu quả và kết quả thực chất. Cấp ủy cần tăng cường công tác theo dõi, đôn đốc, sơ kết, tổng kết; kịp thời điều chỉnh những nội dung không còn phù hợp với thực tiễn; coi trọng đánh giá kết quả thực hiện thông qua những chuyển biến cụ thể trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị và mức độ hài lòng của Nhân dân. Đây chính là yêu cầu quan trọng để từng bước vận dụng tư duy quản trị hiện đại vào hoạt động lãnh đạo của Đảng ở cấp xã.
Sáu là, tiếp tục đổi mới công tác dân vận và phát huy vai trò của Nhân dân trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ở cơ sở.
Trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển và nhu cầu tham gia của người dân vào đời sống chính trị - xã hội ngày càng cao, công tác dân vận cần được đổi mới theo hướng gần dân, trọng dân, hiểu dân và có trách nhiệm với dân. Các tổ chức đảng ở cấp xã cần tăng cường đối thoại với Nhân dân; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong tập hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân; mở rộng các hình thức tham vấn, lấy ý kiến và phản biện xã hội đối với những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân. Đồng thời, cần phát huy vai trò của Nhân dân trong giám sát việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và tăng cường đồng thuận xã hội từ cơ sở.
Bảy là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng ở cấp xã.

Chuyển đổi số cần được xem là một trong những động lực quan trọng để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu đảng viên, cơ sở dữ liệu tổ chức đảng; mở rộng việc sử dụng sổ tay đảng viên điện tử, hệ thống quản lý văn bản điện tử và các nền tảng số phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Đồng thời, từng bước hình thành phương thức lãnh đạo dựa trên dữ liệu, nâng cao năng lực phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định của cấp ủy; đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số phù hợp trong công tác đảng; nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ bí thư đảng ủy, bí thư chi bộ.
Tám là, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình trong hoạt động lãnh đạo của Đảng ở cấp xã.
Đổi mới phương thức lãnh đạo phải gắn liền với đổi mới cơ chế kiểm soát quyền lực. Cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát theo hướng chủ động, thường xuyên, phòng ngừa từ sớm, từ xa; tăng cường giám sát việc thực hiện nghị quyết, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và người đứng đầu. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; đẩy mạnh công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và uy tín của Đảng ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã là một yêu cầu khách quan gắn liền với quá trình đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là sự hoàn thiện các cơ chế, quy trình và phương thức hoạt động của tổ chức đảng ở cơ sở, mà còn là quá trình nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với hệ thống chính trị và đời sống xã hội ở địa phương.
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã đã có nhiều đổi mới và đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu xây dựng nền quản trị địa phương hiện đại, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa đang đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động lãnh đạo của các tổ chức đảng ở cơ sở. Điều đó đòi hỏi phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã phải tiếp tục được đổi mới theo hướng khoa học, dân chủ, hiện đại, gắn chặt hơn với thực tiễn và yêu cầu phát triển của địa phương.
Đại hội XIV của Đảng đã xác định yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Trong bối cảnh đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở cấp xã vừa là yêu cầu của công tác xây dựng Đảng, vừa là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng quản trị địa phương, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và tạo động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
[1] Phó Tổng thư ký Hội đồng Lý luận trung ương.
[2] Phó Bí thư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bỉm Sơn, Thanh Hóa.
[3] Trường Cao đẳng Kỹ thuật - Công nghệ Vĩnh Phúc.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5. Nxb. CTQGST, Hà Nội, 2011, tr. 460.
[5] Xem Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Báo cáo kết quả Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tháng 02/2026.
[6] Ban Tổ chức Trung ương, Báo cáo số 109-BC/BTCTW ngày 19/5/2026 về sơ kết thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII.
[7] Ban Tổ chức Trung ương, Báo cáo số 109-BC/BTCTW ngày 19/5/2026.
[8] Ban Tổ chức Trung ương, Báo cáo số 109-BC/BTCTW ngày 19/5/2026.
[9] Ban Tổ chức Trung ương, Báo cáo số 109-BC/BTCTW ngày 19/5/2026.
[10] Tỉnh ủy Thanh Hóa, Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, năm 2026.
[11] Tỉnh ủy Thanh Hóa, Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, năm 2026.
[12] Ban Tổ chức Trung ương, Báo cáo số 109-BC/BTCTW ngày 19/5/2026.
[13] Xem Lại Quốc Khánh, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chi bộ và vận dụng trong đổi mới nội dung, phương thức sinh hoạt chi bộ hiện nay”. Tạp chí Nghiên cứu Hồ Chí Minh, số 72 (11-12/2025), tr. 26-35.



















