
Hệ lụy từ những “cánh đồng đỏ lửa” và nghịch lý nghèo hóa đất đai
Nhiều năm nay, cứ đến vụ gặt, người nông dân lại loay hoay với câu hỏi cũ: Xử lý rơm rạ thế nào cho nhanh, cho gọn? Khi nhu cầu dùng rơm làm chất lót chuồng hay đun nấu giảm dần, đại đa số nông dân chọn giải pháp cực đoan nhưng nhanh nhất: Đốt ngay tại đồng để dọn ruộng kịp cho vụ sau.
Cứ vào dịp tháng 5 - 6, khi bước vào vụ thu hoạch lúa Xuân, các cánh đồng lại nghi ngút khói. Khói bụi đậm đặc gặp nắng nóng oi bức khiến bầu không khí thêm ngột ngạt. Lượng khói dày đặc tràn ra quốc lộ làm giảm tầm nhìn nghiêm trọng, trực tiếp gây ra không ít vụ tai nạn giao thông thương tâm. Giới khoa học khẳng định: Bụi mịn, carbon đen, bồ hóng và các khí độc (CO, CO2, SO2, NO2) từ hoạt động đốt đồng tự phát này có thể phát tán xa hàng chục kilomet, tấn công trực tiếp vào sức khỏe cộng đồng.

Nhiều nông dân vẫn lầm tưởng việc đốt rơm rạ tại đồng giúp tiêu diệt mầm mống dịch hại và tạo tro làm phân bón. Nhưng các chuyên gia cảnh báo đây là hành vi "lợi bất cập hại". Theo các nhà chuyên môn, lượng dinh dưỡng mà cây lúa hấp thụ từ đất để nuôi cây và tạo hạt tích tụ phần lớn trong rơm rạ. Trong mỗi tấn phụ phẩm này đều chứa hàm lượng đạm hữu cơ tương đương với các loại phân bón hóa học phổ biến hiện nay, đi kèm với đó là lượng lớn kali, silic và các chất trung, vi lượng khác. Đốt bỏ rơm rạ đồng nghĩa với việc người nông dân đang lãng phí một nguồn phân bón hữu cơ khổng lồ có sẵn ngay trên mặt ruộng, trực tiếp làm nghèo hóa nguồn tài nguyên đất đai.
Khi lửa bùng lên, ngọn lửa quét sạch hơn 85% chất xơ, biến chúng thành carbon trơ. Đạm bay hơi hoàn toàn, lân bị biến đổi khó tiêu, phần tro sót lại ít khoáng chất nhưng dễ bị mưa rửa trôi. Lớp mùn hữu cơ vốn giúp đất giữ ẩm, kháng hạn, rét và là tổ ấm của vi sinh vật có lợi bị triệt tiêu. Đất nghèo kiệt làm hệ sinh thái mất cân bằng, sâu bệnh bùng phát dữ dội hơn, ép nông dân phải đổ thêm tiền mua thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Đó là một cái vòng quẩn quanh: Chi phí tăng, hiệu quả thấp.
Lời giải thử nghiệm từ công nghệ vi sinh
Nút thắt lớn nhất của nông dân bấy lâu nay chính là áp lực thời gian gối vụ, đặc biệt là giai đoạn chuyển từ vụ Xuân sang vụ Mùa. Khung thời vụ ngắn khiến việc dọn sạch đồng ruộng để kịp xuống giống trở thành một cuộc đua áp lực. Để giải quyết bài toán này mà không cần dùng đến lửa, ngành nông nghiệp đang thử nghiệm tìm lời giải từ công nghệ vi sinh.
Bà Trương Thị Hương, Chuyên viên Phòng Bảo vệ thực vật (Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh) cho biết, nếu cày vùi trực tiếp rơm rạ tươi vào ruộng ngập nước, chúng sẽ phân hủy yếm khí, sản sinh nhiều khí độc như CH4, H2S và các axit hữu cơ. Hệ quả là lúa non dễ bị ngộ độc hữu cơ, nghẹt rễ, vàng lá và còi cọc. Để tránh rủi ro này, nông dân chọn cách đốt đồng. Việc đốt rơm rạ tại đồng và lạm dụng phân vô cơ liên tục mà không bổ sung hữu cơ làm đất đai ngày càng thoái hóa, chai cứng.

Theo bà Hương, sử dụng chế phẩm vi sinh để phân hủy nhanh rơm rạ tại ruộng, biến chúng thành phân bón hữu cơ là giải pháp quan trọng hướng tới nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn. Chế phẩm giúp ổn định độ pH, ngăn chặn chua hóa đất, đồng thời tăng độ tơi xốp, thông thoáng khí nhờ lượng mùn tạo ra. Ngoài ra, các chủng nấm đối kháng (như Trichoderma) còn có khả năng ức chế mầm bệnh tồn dư từ vụ trước.
Vụ Mùa 2026 này, Chi cục đã phối hợp triển khai mô hình trình diễn thí điểm xử lý rơm rạ bằng sản phẩm Bio 79WP trên diện tích 1 ha tại phường Hồng Quang. Phương pháp khá đơn giản: Sau khi cày lần 1, nông dân trộn 1 kg chế phẩm với phân bón lót rải đều lên mặt ruộng, sau 3 ngày thì tiến hành bừa ngả và ngâm nước chờ cấy. Sau 10 ngày xử lý, bước đầu đã có sự khác biệt rõ rệt. Ở diện tích có sử dụng chế phẩm Bio 79WP, rơm rạ phân hủy nhanh hơn, xác rơm mềm, mủn và ít mùi. Trong khi đó, bên ruộng đối chứng, gốc rạ phân hủy chậm, một số phần vẫn dai cứng và nặng mùi yếm khí.
Giải thích thêm về cơ chế này, ông Trần Hữu Long, nhân viên kỹ thuật thị trường Ninh Bình (Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương) cho biết, chế phẩm Bio 79WP hội tụ các chủng vi sinh vật có lợi như Bacillus, Trichoderma, Saccharomyces… Bên cạnh việc phân hủy nhanh xác bã thực vật để hạn chế ngộ độc hữu cơ, chế phẩm còn hỗ trợ tiêu diệt hạt lúa lẫn và hạt cỏ dại, giúp vệ sinh đồng ruộng và rút ngắn thời gian chuyển vụ.

Là nông dân trực tiếp tham gia mô hình, ông Trần Quang Long (tổ dân phố Hồng Tiến, phường Hồng Quang) chia sẻ: "Vụ này áp dụng chế phẩm sinh học, tôi thấy đơn giản, dễ làm, gặt xong chỉ cần rải lên ruộng trước khi lồng phay đất. Bước đầu thấy tiến triển tốt, rơm rạ mục nhanh, ruộng không bị bốc mùi thối. Nhiều bà con trong vùng đang rất quan tâm".
Với kết quả ban đầu khá tích cực, thời gian tới, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh sẽ tiếp tục theo dõi, đánh giá chi tiết về tình hình sinh trưởng của cây lúa sau gieo sạ, khả năng giảm bệnh nghẹt rễ và ngộ độc hữu cơ để làm cơ sở nhân rộng trong thời gian tới.
Công thức "ủ chín" rơm rạ ở quy mô lớn
Nếu mô hình rải chế phẩm vi sinh tại ruộng phù hợp với nông hộ nhỏ lẻ, thì tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo nông nghiệp Xanh của Tập đoàn VAG Group (xã Nghĩa Sơn), một mô hình ở quy mô công nghiệp, cơ giới hóa đồng bộ đang diễn ra đầy ấn tượng. Giữa cánh đồng mùa gặt vừa xong, hàng chục tấn rơm đang được cuốn vào cỗ máy đảo trộn cỡ lớn, phối trộn cùng phân chuồng và men vi sinh để "ủ chín" thành phân hữu cơ.

Ông Nguyễn Văn Hùng, Trưởng ban cơ giới hóa và sau thu hoạch, Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) - đơn vị chuyển giao kỹ thuật, cho biết: Rơm sau khi thu gom được đưa vào máy nghiền, phối trộn với chất thải chăn nuôi theo tỷ lệ 25% - 30%. Đây là “tỷ lệ vàng” nhằm tối ưu hóa hàm lượng Carbon/Nitơ cho vi sinh vật hoạt động.
Trong quá trình đảo trộn, men vi sinh đặc hiệu được phun áp lực thấm đều vào luống ủ, giúp sinh nhiệt nhanh, rút ngắn 2/3 thời gian hoai mục so với cách ủ truyền thống. Cứ 1 tấn nguyên liệu đầu vào sẽ thu được khoảng 700 kg phân hữu cơ thành phẩm. Tuy nhiên, quy trình này đòi hỏi tính chuẩn hóa cao mà sức người không thể kham nổi ở quy mô lớn.

Ông Phạm Quang Trường, Tổng Giám đốc VAG Group đưa ra con số thực tế: Cứ 1 ha lúa cho khoảng 4 - 5 tấn rơm. Qua dây chuyền xử lý vi sinh, lượng rơm này biến thành 3 - 4 tấn phân hữu cơ chất lượng cao để quay vòng phục vụ chính mảnh đất ấy. Giá trị của phân hữu cơ từ rơm rạ đóng vai trò như một "bộ lọc" cải tạo cấu trúc đất, giúp cây hấp thụ các chất vô cơ hiệu quả hơn, từ đó giảm tối đa lượng phân hóa học cần bón. Thực tế triển khai tại một số mô hình ở Đồng bằng sông Hồng cho thấy, bón phân hữu cơ từ rơm cho cây màu xen canh giúp nông dân giảm được 20% - 30% lượng phân bón thông thường, chất lượng nông sản lại thơm ngon hơn. "Hiệu ứng kép" xuất hiện khi đất sạch, các loài thiên địch tự nhiên quay trở lại trú ngụ, giúp tần suất phun thuốc trừ sâu giảm mạnh.
VAG Group đã xây dựng vòng tuần hoàn khép kín: Rơm rạ được thu gom toàn bộ để chế biến thành phân hữu cơ sau đó bón trả lại cho lúa và cây màu xen canh trên cùng diện tích. Nhờ đó, hệ số sử dụng đất tăng lên 2-3 lần/năm, kéo theo doanh thu tăng trưởng vượt bậc.
Đứng ở góc độ người sản xuất, ông Nguyễn Hải Triều (Chủ tịch HĐQT HTX nông nghiệp Quần Liêu, xã Nghĩa Sơn) khẳng định: "Mô hình này chính là lời giải cho 'nút thắt' bấy lâu của nông nghiệp địa phương, mang lại lợi ích kép cho cả môi trường lẫn túi tiền của nông dân".
Chị Đỗ Thị Mừng (thôn Đò Mười, xã Nghĩa Sơn) bộc bạch: "Nhà tôi làm tới 9 mẫu ruộng. Thời buổi bão giá, áp lực chi phí phân bón đè nặng, thấy công ty làm hiệu quả nên gia đình tôi cũng muốn làm theo". Ông Trần Quốc Toản (nông dân xã Nghĩa Sơn) chia sẻ thêm: “Trước đây, muốn gom rơm cũng chịu vì không có máy móc. Giờ có mô hình cơ giới hóa của doanh nghiệp, bà con ủng hộ 100%. Chúng tôi mong muốn được hỗ trợ liên kết dài lâu, cung cấp máy móc đồng bộ để sản xuất phân hữu cơ đều đặn qua các vụ".

Thay đổi tư duy từ một cọng rơm
Hiệu quả từ thực tế đã chứng minh, tuy nhiên hành trình đưa cọng rơm từ mô hình thí điểm nhân rộng ra toàn tỉnh vẫn đang vấp phải những rào cản nội tại lớn, đòi hỏi những tư duy mang tính vĩ mô.
Theo ông Phạm Quang Trường (VAG Group), rào cản lớn nhất hiện nay là quy mô sản xuất quá manh mún khi phần lớn hộ nông dân chỉ canh tác vỏn vẹn 2-3 sào. Để cơ giới hóa đồng bộ đạt hiệu quả kinh tế, cần diện tích đất tập trung đủ lớn. Như tại xã Nghĩa Sơn, quy mô phải đạt khoảng 70 ha mới đủ cung ứng nguyên liệu sản xuất ổn định 100 tấn phân hữu cơ mỗi vụ. Do đó, vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp liên kết với các Hợp tác xã là điều kiện tiên quyết.
Dưới góc độ chiến lược quốc tế, ông Nguyễn Văn Hùng (IRRI Việt Nam) khẳng định, việc nhân rộng mô hình canh tác giảm phát thải tại Ninh Bình hoàn toàn đồng điệu với lộ trình của Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp của Chính phủ. Mặc dù thị trường tín chỉ carbon từ lúa gạo của Việt Nam vẫn ở giai đoạn xây dựng khung chính sách, nhưng lợi ích trước mắt vô cùng rõ ràng: Giải phóng sức lao động nặng nhọc, cắt giảm chi phí đầu vào và nâng cao vượt trội chất lượng hạt gạo.
Ông Nguyễn Sinh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Qua hai vụ triển khai, mô hình liên kết tuần hoàn này đã giúp năng suất lúa tăng khoảng 20%, đồng thời cắt giảm rõ rệt chi phí vật tư và công lao động. Để tạo bệ đỡ, mới đây HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 21/2026/NQ-HĐND về hỗ trợ sản xuất, bảo vệ đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh, khuyến khích phát triển nông nghiệp bền vững. Đây là bước đi nền tảng để hiện thực hóa Đề án sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt của toàn tỉnh.

Một cọng rơm - thứ từng bị coi là phế phẩm gây ô nhiễm ngột ngạt sau mỗi mùa gặt nay đã được định giá thành nguồn tài nguyên quay trở lại nuôi dưỡng chính mảnh ruộng sinh ra nó. Đó cũng chính là triết lý cốt lõi của nền kinh tế tuần hoàn: Không có gì là bỏ đi, chỉ có những giá trị chưa được khai thác đúng cách.
Để cọng rơm thực sự trở thành nguồn tài nguyên bền vững trên diện rộng, các chuyên gia nông nghiệp và kinh tế khẳng định cần một chiến lược đồng bộ với sự vào cuộc của "ba nhà". Trước hết, về tầm vĩ mô, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua việc hỗ trợ ngân sách cho các nghiên cứu cơ giới hóa. Cụ thể là đẩy nhanh việc đưa vào sử dụng các loại máy cuốn rơm quy mô nhỏ, linh hoạt, phù hợp với địa hình manh mún của miền Bắc, kết hợp nghiên cứu tích hợp máy cắt gốc rạ để tối đa hóa tỷ lệ thu gom. Đồng thời, nguồn lực tài chính công cũng cần ưu tiên cho các đề tài chế phẩm sinh học, giúp người dân xử lý gốc rạ tại chỗ ở những vùng khó đưa máy móc vào, giảm thiểu nguy cơ ngộ độc hữu cơ cho cây trồng.
Ở cấp thực thi, chính quyền địa phương chính là cầu nối biến chính sách thành hành động. Thay vì chỉ áp dụng các chế tài hành chính hay xử phạt đối với hành vi đốt rơm rạ, các địa phương cần hỗ trợ kinh phí mua chế phẩm vi sinh để tiếp sức cho nông dân. Song song đó, công tác khuyến nông cần đổi mới theo hướng cầm tay chỉ việc, tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật sát thực tế và phù hợp với trình độ nhận thức của từng địa bàn.
Tuy nhiên, mọi giải pháp công nghệ hay hành chính sẽ chỉ dừng lại ở mô hình nếu thiếu đi chân kiềng thứ ba: Xây dựng chuỗi giá trị bền vững. Việc quy hoạch, hình thành các đầu mối doanh nghiệp thu mua và bao tiêu đa dạng sản phẩm đầu ra từ rơm rạ-từ phân hữu cơ, rơm trồng nấm đến thức ăn chăn nuôi hay viên nén năng lượng – là điều kiện tiên quyết. Chỉ khi tạo ra được một thị trường sôi động, giúp người nông dân nhìn thấy lợi ích kinh tế so sánh rõ ràng giữa việc "bán cọng rơm" với việc đốt tự phát, bài toán đốt rơm rạ tại đồng mới thực sự được giải quyết tận gốc.












