Từ “mỏ vàng” di sản đến nguồn lực sáng tạo quốc gia
Thứ Tư, 15/07/2026, 14:41
Ngày 13/7 vừa qua, phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp thứ 2 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ một trong “bốn khoảng trống” lớn nổi lên từ thực tiễn, đó là về năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia. Thực tế, Việt Nam không thiếu những di sản đặc sắc kết tinh chiều sâu văn hóa, lịch sử và trí tuệ dân tộc, nhưng nếu chỉ dừng ở bảo tồn hay khai thác theo phương thức truyền thống, thì những giá trị từ di sản sẽ khó trở thành sức mạnh cạnh tranh trong nền kinh tế sáng tạo.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Phiên họp thứ 2 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Mặc dù sở hữu hơn 40.000 di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh, nhưng phần lớn kho tàng di sản của Việt Nam vẫn chưa được số hóa, chuẩn hóa và kết nối thành dữ liệu dùng chung; chưa được bảo hộ, khai thác hiệu quả dưới dạng tài sản trí tuệ; chưa trở thành tri thức số, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo.
Nhận định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ hạn chế của ngành văn hóa hiện nay và đặt ra yêu cầu cấp thiết phải biến kho tàng di sản đồ sộ của Việt Nam thành nguồn lực nội sinh cho phát triển trong kỷ nguyên số. Theo Tiến sĩ Nguyễn Thu Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam (S-DCI), nhiều năm qua, chúng ta chủ yếu chỉ tập trung vào bảo tồn di sản, chưa thực sự chú trọng chuyển hóa di sản thành các giá trị mới. Điểm nghẽn chủ yếu là thiếu năng lực kết nối di sản với khoa học, công nghệ, giáo dục, thiết kế, truyền thông và thị trường. Vì vậy, nguồn tài nguyên văn hóa rất phong phú nhưng giá trị kinh tế, giáo dục và sức lan tỏa xã hội còn khiêm tốn. Nói cách khác, chúng ta đang có rất nhiều “nguyên liệu”, nhưng còn thiếu một hệ sinh thái đủ mạnh để biến đó thành nguồn lực phát triển quốc gia.
Như vậy, có thể thấy, “khoảng trống” lớn mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề cập không đơn thuần là câu chuyện của công nghệ hay chuyển đổi số, mà sâu xa hơn là khoảng trống trong tư duy khai thác, phát huy giá trị di sản. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, cần thúc đẩy chuyển hóa di sản và vốn văn hóa thành tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, khoa học, công nghệ, công nghiệp văn hóa và đổi mới sáng tạo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, số hóa di sản không được chạy theo tỷ lệ để số hóa hình thức. Dữ liệu di sản phải có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng. Mỗi bộ dữ liệu, mỗi di sản được số hóa cần được quản lý như một loại tài sản có khả năng tạo ra giá trị khoa học, giá trị văn hóa và giá trị kinh tế.
Bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan tỏa, trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định: Bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan tỏa, trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thu Hạnh, cần có cơ chế phù hợp thúc đẩy sự liên kết chặt chẽ giữa các lĩnh vực văn hóa, công nghệ, giáo dục, du lịch, thiết kế, truyền thông và doanh nghiệp sáng tạo để hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh; đồng thời có cơ chế bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ một cách bền vững. Bên cạnh đó, cần đầu tư cho các mô hình đổi mới sáng tạo dựa trên di sản, để di sản không chỉ được kể lại mà còn được trải nghiệm, đối thoại và tiếp tục sáng tạo, tạo ra những giá trị mới cho cả văn hóa và kinh tế.
Đứng ở góc độ pháp lý, luật sư Lê Quang Vinh, Giám đốc Công ty Sở hữu trí tuệ Bross & Partners cho rằng, muốn phát triển kinh tế di sản, cần đặt nó ở giao điểm của nhiều luật, như Luật Di sản văn hóa, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Dữ liệu, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công..., cùng các quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo. Đặc biệt, cần nhận diện rõ từng lớp giá trị của di sản, từ lớp lõi di sản đến lớp hình thành nên các tài sản sở hữu trí tuệ, tài sản dữ liệu, tài sản số, tài sản có nguồn gốc nhà nước, tài sản cộng đồng… Việc nhận diện đúng các lớp này là cơ sở để xác lập cơ chế khai thác phù hợp cho từng loại tài sản hình thành từ di sản.