
Những năm gần đây, thuật ngữ “sức mạnh mềm văn hóa” đã không còn xa lạ với các nhà lãnh đạo, quản lý và giới nghiên cứu văn hóa. Đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng sức mạnh mềm văn hóa của quốc gia bao gồm toàn bộ giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra, được bổ sung, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở thành bản sắc, vốn văn hóa, sức mạnh nội sinh để chế ngự thiên tai, chiến thắng thù trong giặc ngoài, trường tồn và phát triển theo xu hướng tiến bộ, văn minh của nhân loại. Con người là chủ thể sáng tạo ra sức mạnh mềm văn hóa, đồng thời con người cũng là sản phẩm của chính sức mạnh mềm văn hóa đó.
Sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam là những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do các thế hệ người Việt Nam từ xưa đến nay sáng tạo nên (hoặc được người Việt Nam tiếp thu từ bên ngoài rồi Việt hóa), trở thành tài nguyên văn hóa, vốn văn hóa, bản sắc dân tộc, điểm tựa, nhân lên sức mạnh vô tận trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam chứa đựng trong giá trị của hàng vạn di tích, lễ hội truyền thống, ở phong tục, tập quán tốt đẹp, nhân văn, đạo lý dân tộc, tâm hồn dân tộc, tình cảm dân tộc mà Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã chỉ rõ: “Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, trong nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”.
Đặc biệt, sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam nằm chủ yếu trong phẩm chất, đức tính của “con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính” (Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bổ sung, phát triển năm 2011). Sau này, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (2014), Kết luận số 76-KL/TW ngày 4/6/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước xác định rõ bảy đức tính cơ bản của con người Việt Nam: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Tình hình thế giới và trong nước hiện nay có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra (từ năm 1994) còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề hơn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để thực hiện các mục tiêu đến năm 2025, 2030 và 2045 do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề ra. Có nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới đặt ra, song không thể bỏ qua yêu cầu “phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam”[i] trong sự nghiệp xây dựng, phát triển bền vững đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Trong bối cảnh “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp”[ii], nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội còn nhức nhối, bài viết tập trung đề cập vấn đề phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong công tác phòng, chống tiêu cực của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hiện nay.
Ngày 1/8/2022, Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ban hành Hướng dẫn số 25 - HD/BCĐTW hướng dẫn một số nội dung về công tác phòng chống tiêu cực. Theo đó, tiêu cực của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức được nhận diện “là những hành vi trái với Điều lệ, cương lĩnh, nghị quyết, quy chế, quy định, chỉ thị, kết luận… của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; các chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm giảm sút niềm tin của nhân dân, cản trở quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, biểu hiện rõ nét nhất của tiêu cực là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị”.
Như vậy, nội hàm của thuật ngữ “tiêu cực” của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức bao gồm nhiều nội dung mà những biểu hiện của nó liên quan trực tiếp đến văn hóa, chính trị, văn hóa công vụ của đội ngũ này. Khi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đã “tiêu cực” thì để lại hậu quả khôn lường, không chỉ với cá nhân họ mà còn với cả tổ chức, thậm chí cả hệ thống chính trị của đất nước, trước hết là với đảng cầm quyền.
Thành tựu kỳ diệu, vĩ đại, toàn diện của đất nước trong công cuộc đổi mới trước hết bắt nguồn từ những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó có chủ trương đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nói một cách khái quát tức là nhất quán coi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt, công tác cán bộ là then chốt của then chốt.
Không thể phủ nhận là số đông cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hiện nay, mặc dù gặp không ít khó khăn trong cuộc sống hằng ngày, nhưng vẫn có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có năng lực chuyên môn vững vàng, chuyên nghiệp, có kỷ cương, kỷ luật trong lao động, công tác, có khát vọng cống hiến, có các mối quan hệ ứng xử văn hóa, tận tụy phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân.
Tuy nhiên, đối chiếu với 19 biểu hiện “tiêu cực” do Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chỉ ra thì một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đã chạm đáy. Những hiện tượng, số liệu, vụ việc mà cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu lên trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 - 2020, ngày 12/12/2020 là những cảnh báo hết sức nghiêm khắc và quyết liệt[iii]. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đến nay, Đảng đã phải thi hành kỷ luật hàng trăm cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trong đó có hàng chục Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng…
Trong bối cảnh và thực trạng đáng lo ngại về một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vướng vào “tiêu cực”, sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam nằm ở đâu và cần được phát huy như thế nào?
Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam nằm ở quyết tâm chính trị của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp. Ngay từ tháng 6/1997, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo đó, đặt ra những tiêu chuẩn chung và những tiêu chuẩn mang tính đặc thù của cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang, cán bộ khoa học, chuyên gia, cán bộ quản lý kinh doanh.
Ngày 19/5/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Yêu cầu mà Đảng đặt ra là cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược phải đủ ba yếu tố đặc biệt quan trọng, gắn bó hữu cơ với nhau là phẩm chất, năng lực và uy tín, từng bước tiến tới giảm thiểu sự khiếm khuyết do chủ quan của cán bộ. Phẩm chất được đặt lên hàng đầu, bởi đây là yếu tố cơ bản để làm nên giá trị đích thực của một con người. Theo đó, phẩm chất chính trị là quan trọng nhất (kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…), cùng với đó là phẩm chất đạo đức cách mạng (cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân…). Tiếp theo là phải đủ năng lực (khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao…), đủ uy tín (sự tín nhiệm và tin yêu của mọi người…). Cả phẩm chất, năng lực, uy tín của cán bộ phải ngang tầm nhiệm vụ, khắc phục hiện tượng ngồi nhầm chỗ, cản trở sự phát triển chung, tạo động lực cho cán bộ không ngừng học tập, rèn luyện để hoàn thiện mình, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc.
Để tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tại Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng có ý nghĩa quyết định sự nghiệp cách mạng của Đảng nhưng không thể tách rời với xây dựng hệ thống chính trị và những nội dung khác có liên quan. Vì thế, ngày 25/10/2021, tại Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam còn nằm trong chính sách, pháp luật của Nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức. Đặc biệt, ngày 27/12/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1847/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án văn hóa công vụ, áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương tới các địa phương. Mục đích của Đề án nhằm: Nâng cao văn hóa công vụ góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ; kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; nâng cao đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, đạo đức nghề nghiệp của viên chức, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, phòng, chống tham nhũng; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong thực hiện văn hóa công vụ.
So với tất cả các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành liên quan đến văn hóa công vụ thì Đề án Văn hóa công vụ (2018) nêu đầy đủ nhất bốn nội dung của văn hóa công vụ, bao gồm những giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu cụ thể, có tính khả thi cao, nhất thiết cán bộ, công chức, viên chức phải tự giác thực hiện: Tinh thần, thái độ làm việc của cán bộ, công chức; Chuẩn mực giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức; Chuẩn mực về đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức; Trang phục của cán bộ, công chức, viên chức.
Thủ tướng Chính phủ quy định cán bộ, công chức, viên chức phải trung thành với Nhà nước, bảo vệ danh dự Tổ quốc, lợi ích quốc gia, tận tụy phục vụ nhân dân, nỗ lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, tâm huyết, tận tụy, gương mẫu, có ý thức kỷ luật cao, làm việc hiệu quả, không được thờ ơ, vô cảm, phải công tâm, khách quan, chủ động xin thôi giữ chức vụ khi bản thân hạn chế về năng lực và uy tín. Trong giao tiếp với người dân, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng, lắng nghe; đối với đồng nghiệp phải hợp tác, tương trợ; với cấp trên phải phục tùng sự chỉ đạo, điều hành, không nịnh bợ lấy lòng vì động cơ không trong sáng, cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý không được duy ý chí, bảo thủ, gương mẫu trong giao tiếp, ứng xử. Cán bộ, công chức, viên chức phải không ngừng học tập, rèn luyện về đạo đức lối sống, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, trung thực, giản dị, chân thành, không ganh ghét đố kỵ, không sa vào tệ nạn xã hội, tuân thủ kỷ luật phát ngôn, tuân thủ chuẩn mực đạo đức gia đình, thuần phong mỹ tục. Khi thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải ăn mặc gọn gàng, lịch sự, phù hợp với tính chất công việc, thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Để phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong công tác phòng, chống tiêu cực của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước mắt cũng như về lâu dài cần phải tiến hành đồng bộ nhiều nhiệm vụ, giải pháp. Bước đầu, bài viết tập trung nhấn mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể sau đây:
Một là, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, về văn hóa chính trị, văn hóa công vụ, văn hóa công sở. Mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức theo chức năng, nghiệp vụ của mình phải có những cách làm mới, hấp dẫn, tránh những hình thức nhàm chán, đơn điệu theo kiểu “chuồn chuồn chấm nước” để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về giá trị của văn hóa Việt Nam, về truyền thống tốt đẹp của dân tộc, về tiêu chuẩn cán bộ, đảng viên, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở vị trí việc làm của mỗi người.
Cần đặc biệt chú trọng tuyên truyền, giáo dục chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó có Quy định số 24-QĐ/TW ngày 30/7/2021 về thi hành Điều lệ Đảng, Chiến lược các bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến, “tự chuyển hóa”, Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.
Về chính sách, pháp luật của Nhà nước, tập trung tuyên truyền, giáo dục Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; bốn nội dung của văn hóa công vụ, văn hóa công sở… Việc tuyên truyền, giáo dục sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam phải kiên trì, thường xuyên, liên tục, lồng ghép vào các hoạt động chuyên môn, sinh hoạt của chi bộ, đảng bộ, của các tổ chức chính trị - xã hội, các cuộc thi tìm hiểu về sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, các cuộc tọa đàm, hội thảo, hoạt đồng về nguồn…
Hai là, hơn bao giờ hết cần đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đặc biệt nhấn mạnh và tổ chức cho các tập thể, cá nhân, tự giác “làm theo” thông qua các chương trình hành động cụ thể, thiết thực, các kế hoạch hành động từng tháng, từng quý, từng năm, có kiểm tra, giám sát, khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân điển hình trong quá trình thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW. Gắn việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với việc thực hiện Quyết định số 733/QĐ-TTg ngày 14/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch tổ chức, phong trào thi đua “Cán bộ, công chức, viên chức, thi đua thực hiện văn hóa công sở giai đoạn 2019-2025”.
Để thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 733/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức cũng cần có cách làm riêng, mang bản sắc văn hóa công vụ cơ quan, đơn vị, tổ chức mình, thực sự có chiều sâu, thực chất, tuyệt đối tránh hô hào chung chung, phát động thì rầm rộ, càng về sau càng hụt hơi, hình thức. Ở đây, vai trò của người đứng đầu, của cấp ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo có ý nghĩa quyết định.
Ba là, tập trung “xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, tiêu cực”[iv]; “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước” [v]; “Tăng tốc thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo dõi…; siết chặt kỷ cương Đảng, để chống mạnh mẽ hơn và xây bền vững hơn”6.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[i] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.1, tr.145.
[ii] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.1, tr.108.
[iii] Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2022, tr.390 - 413.
[iv] Đảng Cộng sản việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H, t.1, tr.38.
[v] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.1, tr.178.
6 Báo Điện tử Chính phủ: Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 13 khóa XIII. Link: https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-phien-be-mac-hoi-nghi-trung-uong-13-khoa-xiii-102251008094051887.htm









