Tháng Tư, nắng đầu hạ trải vàng rực rỡ trên mênh mông, bạt ngàn màu xanh của những cánh rừng sú, vẹt, bần chua. Đây cũng là thời điểm người dân sinh sống quanh khu vực Vườn quốc gia Xuân Thủy bước vào mùa khai thác cáy mật sôi động.
Người dân các xã vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy chèo thuyền mủng để bắt cáy mật.
Vùng đất ngập mặn Xuân Thủy nằm ở phía Nam cửa Sông Hồng thuộc Vườn quốc gia Xuân Thủy với hơn 7.000ha diện tích tự nhiên và 8.000ha vùng đệm. Không chỉ có hệ sinh thái đa dạng, nơi đây còn có nguồn lợi thủy sản phong phú, mang lại việc làm, tăng thu nhập, tạo sinh kế cho người dân 3 xã vùng đệm Giao Minh, Giao Hòa, Giao Phúc và khu vực lân cận. Trong đó, nhiều sản vật có giá trị kinh tế cao như cáy mật, cua rèm, ốc móng tay… được thị trường rất săn đón. Chị Đỗ Thị Lan, người dân xã Giao Minh cho biết: Cáy mật là loài đặc hữu thường sinh sống dưới gốc cây sú, vẹt và trong các đầm rộng. Nhờ môi trường sinh thái trong lành, nguồn thức ăn phong phú từ thiên nhiên đã tạo nên hương vị đặc biệt cho loài cáy này. Thịt cáy mật có vị ngọt tự nhiên, nhiều thịt và rất giàu dinh dưỡng. Người dân địa phương thường đánh bắt cáy theo con nước thủy triều, vừa bảo đảm nguồn cung, vừa bảo vệ sự phát triển bền vững của loài. Cáy mật ở đây to, còng đỏ thắm, nhiều gạch, sau khi bắt về sẽ được rửa sạch bùn đất, cấp đông ngay bảo đảm độ tươi và đóng túi bán cho khách mua. Nhờ phương pháp cấp đông nhanh và hút chân không nên gạch cáy không bị thâm đen mà vẫn giữ được màu vàng tươi bắt mắt. Cáy mật có thể chế biến thành nhiều món ngon thanh mát, bổ dưỡng được đặc biệt yêu thích vào mùa hè như: lẩu cáy, riêu cáy, canh cáy nấu với rau đay, mồng tơi, mướp; canh cáy khoai sọ và rau rút... Không chỉ thơm ngon, cáy mật còn là nguồn cung cấp canxi dồi dào, rất tốt cho sức khỏe, vì vậy được nhiều người tìm mua.
Niềm vui của những người phụ nữ sau một ngày khai thác cáy mật trở về.
Tuy nhiên, để bắt được cáy mật không hề đơn giản. Bà Nguyễn Thị Hợp, người dân xã Giao Minh chia sẻ: “Nghề này tùy thuộc vào con nước lên xuống, có những hôm, từ 3-4 giờ sáng, chúng tôi đã phải thức dậy, ăn vội bữa sáng, chuẩn bị dụng cụ, đeo găng tay, xà cạp, giày chuyên dụng, sẵn sàng để bắt đầu đi đào cáy”. Gắn bó với công việc vất vả nhưng cũng khá thú vị này đã hàng chục năm, bà Hợp thuộc nằm lòng lịch lên xuống của con nước. Thông thường một ngày lao động, nhóm phụ nữ khoảng 5-6 chị em sẽ thay nhau chèo thuyền mủng gần một tiếng đồng hồ mới ra đến khu vực bãi có nhiều cáy trú ẩn dưới gốc sú, vẹt. Đằm mình trong bùn nước rất lâu, nhiều khi phải nằm áp sát mặt bùn, thọc cả cánh tay sâu xuống hang mới bắt được, vì đặc tính của loài cáy là nhát, chỉ nghe tiếng động là chui tọt xuống, trốn sâu trong hang. Chưa kể, nhiều khi trong quá trình khai thác còn bị cáy mật với đôi càng chắc khỏe cắp cho chảy máu tay.
Chị Nguyễn Thị Cam cùng nhóm đi bắt cáy mật với bà Hợp chia sẻ thêm: “Lý tưởng nhất là những hôm ra đến bãi, nước thủy triều vẫn chưa rút đi hết, còn xăm xắp mặt bùn, việc bắt cáy sẽ dễ dàng hơn. Một ngày đi đào cáy mất khoảng từ 4-6 tiếng, tùy theo con nước lên sớm hay muộn. Tuy nhiên, không phải lúc nào thời tiết cũng thuận lợi. Có những ngày biển động, ra đến bến đò thì trời nổi giông rồi mưa to gió lớn, chờ cả tiếng không ngớt lại phải quay về. Khó nhọc là vậy, nhưng chúng tôi rất vui, vì có nguồn thu nhập ngay trong ngày để trang trải cuộc sống gia đình, chăm lo cho các con học hành”. Ngày ít bắt được 2-3kg, ngày nhiều được 5-6kg, với giá bán cho thương lái khoảng trên dưới 100 nghìn đồng/kg tùy loại to nhỏ, trung bình mỗi người cũng kiếm được vài trăm nghìn đồng.
Cáy mật được sơ chế sạch sẽ, đóng túi, hút chân không, bảo đảm tươi ngon khi tới tay người tiêu dùng.
Để phát triển sinh kế bền vững cho người dân các xã vùng đệm, nhiều năm qua, Vườn quốc gia Xuân Thủy thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương, thôn, xóm tuyên truyền để mỗi người dân nâng cao ý thức trách nhiệm, gắn khai thác, nuôi trồng thủy, hải sản với gìn giữ, bảo tồn rừng ngập mặn. Tháng 12/2025, Sở Khoa học và Công nghệ Ninh Bình tổ chức hội nghị nghiệm thu kết quả Đề tài khoa học “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái loài cáy mật tại Vườn quốc gia Xuân Thủy phục vụ khai thác và bảo tồn” do ThS. Lại Duy Phương, Viện nghiên cứu Hải sản (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) làm chủ nhiệm. Theo đó, sau khoảng 3 năm thực hiện, đề tài đã xây dựng được quy trình sản xuất giống cáy mật nhân tạo; sản xuất thử nghiệm 106 nghìn con giống; thử nghiệm 2 mô hình bảo tồn, phục hồi nguồn lợi cáy mật tại Vườn quốc gia Xuân Thủy (1 mô hình sử dụng nguồn giống nhân tạo, 1 mô hình duy trì các quần thể cáy mật trong điều kiện tự nhiên). Sau 6 tháng, mô hình thả giống nhân tạo tỉ lệ sống đạt 67%. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã đề xuất 3 nhóm giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi loài cáy mật tại Vườn quốc gia Xuân Thủy. Kết quả nghiên cứu của đề tài khi được áp dụng vào thực tiễn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân các xã vùng đệm và khu vực lân cận tiếp tục phát triển kinh tế gia đình nhờ nuôi trồng, khai thác nguồn lợi thủy, hải sản đặc hữu, trong đó có loài cáy mật.
Nghề khai thác cáy mật ở Vườn quốc gia Xuân Thủy giúp người dân các xã vùng đệm có thêm nghề phụ, mang lại nguồn thu nhập ổn định ngay tại quê hương. Bởi vậy, người dân nơi đây luôn xác định phải khai thác hợp lý gắn với bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn để giá trị kinh tế và giá trị môi trường song hành phát triển. Để Vườn quốc gia Xuân Thủy không chỉ xứng đáng với danh hiệu “Vườn di sản ASEAN” vừa được công nhận mới đây, mà còn là chỗ dựa vững chắc cho việc tạo sinh kế bền vững, nâng cao đời sống kinh tế của cộng đồng địa phương.