
“Sân ga” của các loài chim…
Vừa dẫn chúng tôi xuôi theo dòng sông Trà ra cửa Ba Lạt, để trải nghiệm và khám phá những điều kỳ thú ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy, anh Lê Tiến Dũng, cán bộ Ban quản lý Vườn Quốc gia Xuân Thủy, người đã gắn bó với Vườn Quốc gia Xuân Thủy gần 30 năm, vừa kể: Vườn rộng hơn 7.000 ha, nằm trên địa bàn các xã Giao Minh, Giao Hòa và Giao Phúc; là vùng đất ngập nước cửa sông ven biển tiêu biểu với địa hình tự nhiên được kiến tạo theo quy luật bồi tụ và xói lở của vùng cửa sông châu thổ Bắc Bộ. Năm 1989, vùng đất ngập nước thuộc Vườn Quốc gia Xuân Thủy được công nhận là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á; đánh dấu Việt Nam trở thành thành viên thứ 50 của Công ước Ramsar (Công ước bảo vệ những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, nhất là nơi cư trú của các loài chim nước). Gần 30 năm gắn bó, anh yêu vùng đất này như máu thịt. Anh thuộc từng con nước, từng luồng lạch, từng bãi triều và đặc tính của từng loại chim. Anh bảo: mỗi địa danh ở Vườn Quốc gia đều có câu chuyện riêng. Con sông Trà hiền hòa, bao đời nay là nguồn sống của những thế hệ cư dân ven bãi.
Theo lịch sử ghi chép, trước đây, sông Hồng sẽ chảy qua cửa Hà Lạn để ra biển, lúc này Giao Thuỷ vẫn còn ở vùng tả ngạn Ba Lạt chỉ là con lạch nhỏ, từ bờ này sang bờ kia chỉ cách một chiếc cầu tre buộc ba cái lạt. Vào thời Lê năm Bính Ngọ, sông Hồng chảy ra sông Ngự Hàm qua cửa Hà Lạn, đến năm 1787 sự kiện “kiến tạo của vỏ trái đất" diễn ra, tác động làm cho Ba Lạt được mở rộng và trở thành cửa sông, sử sách gọi là “Hội phá Ba Lạt". Cửa Ba Lạt là đoạn cuối cùng trên hành trình sông Hồng chảy về, hòa mình vào Biển Đông; là vùng nước giao thoa giữa sông và biển nên dòng nước chính ở khu vực này là nước lợ, nơi cửa biển nước có độ mặn càng cao và sẽ nhạt dần khi đi sâu vào phía thượng nguồn sông Hồng. Về mùa khô hanh, khi nước trong sông Hồng và hệ thống sông nội đồng cạn dần thì nước biển sẽ càng xâm lấn sâu hơn vào phía đất liền. Do đó, chỉ các loài cây chịu mặn như đước, sú, vẹt mới có thể mọc, sinh sôi, xanh tốt ở đây…

Đặc biệt, Vườn Quốc gia Xuân Thủy là nơi dừng chân và trú đông quan trọng của các loài chim nước di cư. Kết quả điều tra, khảo sát thực địa và kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu tại Vườn đã thống kê được 222 loài chim thuộc 42 họ của 12 bộ; trong đó 166 loài chim di cư. Trong số các loài sinh vật quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ở Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ, nhóm chim được chú ý bảo tồn nhiều hơn cả, nhất là nhóm chim di cư. Có 2 dòng chim di cư, đó là: chim di cư tránh rét từ phương Bắc xuống trú đông, vào dịp hè thu các loài chim di cư tránh nóng từ phương Nam lên.

Chính vì vậy, Vườn Quốc gia Xuân Thủy được mệnh danh là “sân ga” của nhiều loài chim quý, hiếm, đặc biệt là nơi sinh sống của nhiều loài chim nước. Đây cũng là một trong 6 vùng chim quan trọng của các vùng đất ngập nước trọng yếu ở đồng bằng Bắc Bộ và nằm trên đường bay chim nước di cư tuyến Úc - Đông Á. Theo lời anh Dũng, nếu muốn ngắm nhìn quang cảnh chim bay rợp trời, thì nên đến Vườn trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Bởi vì đây là thời gian mà các loài chim tập trung nhiều nhất tại Vườn Quốc gia, không gian “sân ga” vì thế sẽ đông đúc, nhộn nhịp hơn.
Phòng thí nghiệm tự nhiên

Không chỉ là nơi dừng chân của các loài chim, Xuân Thủy còn là “bảo tàng sống” của hệ sinh thái đất ngập nước. Theo số liệu điều tra, Vườn hiện có 1.656 loài sinh vật, gồm 203 loài thực vật có mạch, 155 loài cá, 385 loài động vật không xương sống, 427 loài côn trùng, cùng hàng trăm loài sinh vật nổi, rong biển, bò sát, ếch nhái, thú… Trong đó, có nhiều loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ IUCN (Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế) như: mèo cá, sam biển, cò mỏ thìa, diệc xám… Chính sự đa dạng ấy đã biến nơi đây thành “phòng thí nghiệm tự nhiên” lý tưởng cho các nhà khoa học, sinh viên và các tổ chức bảo tồn trong nước và quốc tế. Mỗi mùa nước lên, rất nhiều đoàn nghiên cứu trong và ngoài nước về khảo sát, ghi nhận, chụp ảnh, đo đạc, khảo thí tại Vườn. Mỗi phát hiện mới lại mở rộng thêm hiểu biết về giá trị sinh thái của vùng cửa sông ven biển.
Anh Lê Tiến Dũng cho biết: Các kiểu đất ngập nước chính ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy bao gồm: bãi triều có rừng ngập mặn; bãi triều lầy không có rừng ngập mặn; đầm tôm, dải cát ở mép ngoài Cồn Lu và các dải cát chắn ngoài cửa sông - Cồn Xanh, Cồn Mờ, sông nhánh và lạch triều; vùng nước cửa sông (giới hạn ven bờ ngoài Cồn Lu, Cồn Xanh). Tại mỗi kiểu hệ sinh thái có các đặc trưng riêng về điều kiện môi trường sống, nơi cư trú… dẫn tới các đặc trưng về quần xã sinh vật.

Không chỉ là nơi dành riêng cho giới khoa học, Xuân Thủy còn là “vườn của người dân”. Cư dân các xã vùng đệm như: Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc cũ nay là xã Giao Minh (nơi mặt trời mọc…) bao đời gắn bó với đất rừng, sông nước. Họ cùng cán bộ Vườn chung tay bảo vệ rừng, khai thác bền vững để mưu sinh. Ông Ngô Đức Đang, người dân xã Giao Minh, có hơn 30 năm nuôi cua, tôm, cá trong khu ngập mặn, kể: “Nhờ nước sạch, nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào, phong phú nên tôm, cua ở đây thịt chắc, thơm. Mình vừa có thu nhập, vừa giữ được môi trường”.
Anh Doãn Cao Cường, Giám đốc Ban quản lý Vườn Quốc gia Xuân Thủy chia sẻ: “Những năm gần đây, chúng tôi luôn xác định bảo tồn phải gắn với sinh kế. Khi người dân được hưởng lợi từ rừng, họ sẽ có trách nhiệm bảo vệ rừng tốt hơn. Đó là chìa khóa để Xuân Thủy phát triển bền vững”. Từ khi có mô hình sinh kế cộng đồng, đời sống người dân vùng đệm khấm khá hơn. Còn những cánh rừng ngập mặn thì xanh thêm mỗi ngày - một minh chứng cho sự chung sống hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Tháng 12/2004, Vườn Quốc gia Xuân Thủy được UNESCO công nhận là vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới khu vực ven biển liên tỉnh đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Vườn Di sản ASEAN
Tháng 9/2025, tại Hội nghị Bộ trưởng Môi trường ASEAN lần thứ 18 tổ chức ở Malaysia, Trung tâm Đa dạng sinh học ASEAN đã chính thức công nhận Vườn Quốc gia Xuân Thủy là Vườn Di sản ASEAN thứ 15 của Việt Nam và thứ 69 của khu vực Đông Nam Á. Danh hiệu này không chỉ là niềm tự hào, mà còn là sự ghi nhận nỗ lực không ngừng của Việt Nam nói chung, tỉnh Ninh Bình nói riêng trong công tác bảo tồn.

Theo đánh giá, Xuân Thủy đáp ứng đầy đủ 12 tiêu chí của một Vườn Di sản ASEAN, từ tính toàn vẹn sinh thái, tính đại diện, giá trị đa dạng sinh học, cho đến tính pháp lý, kế hoạch quản lý, sự tham gia của cộng đồng… Đây là thành quả đáng tự hào của bao thế hệ cán bộ, kiểm lâm, nhà khoa học và người dân địa phương, những người đã cống hiến thầm lặng vì mảnh đất được mệnh danh là “lá phổi xanh” của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Khi hỏi về danh hiệu Vườn Di sản ASEAN, anh Lê Tiến Dũng chia sẻ: Mỗi con chim bay về, mỗi mầm sú, bần… mọc lên đều đem lại những vẻ đẹp riêng có cho vùng đất này. Giờ được công nhận là Vườn Di sản ASEAN, ai cũng tự hào nhưng cũng thấy trách nhiệm lớn hơn - chúng tôi luôn tâm niệm, phải giữ cho Vườn mãi xanh, mãi là nơi các loại chim tìm về. Với những người như anh Dũng, anh Cường, ông Đang thì Xuân Thủy không chỉ là một vùng đất mà đó còn là biểu tượng của sự bền bỉ, của niềm tin vào sức sống của thiên nhiên. Giữa nhịp phát triển hiện đại, nơi đây vẫn giữ được vẻ nguyên sơ, hoang dã vẫn là “lá phổi xanh”, điều hoà khí hậu của vùng châu thổ đồng bằng Bắc Bộ.
Danh hiệu Vườn Di sản ASEAN 2025 là phần thưởng xứng đáng, nhưng hơn thế, là lời nhắc nhở mỗi chúng ta về trách nhiệm gìn giữ và lan tỏa giá trị di sản. Đó không chỉ là niềm tự hào của tỉnh Ninh Bình mà còn là cam kết của Việt Nam với khu vực về việc sẵn sàng đồng hành cùng thiên nhiên, không bằng những khẩu hiệu mà bằng hành động cụ thể, quyết liệt.











