Nhiều mô hình nuôi cá chép Koi mang lại giá trị kinh tế cao
Chủ Nhật, 19/04/2026, 16:17
Zalo
Thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị, những năm gần đây, mô hình nuôi cá chép Koi trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã và đang mở ra hướng đi mới, mang lại hiệu quả kinh tế rõ nét cho người dân.
Chị Bùi Thị Hạnh (thôn Bối La Vậy, xã Minh Tân) thu hoạch cá chép Koi để xuất bán ra thị trường.
Từ những khu đồng hoang hóa, cấy lúa kém năng suất, hiệu quả thấp, chị Bùi Thị Hạnh (thôn Bối La Vậy, xã Minh Tân) đã tiên phong cải tạo đất đai, phát triển mô hình nuôi cá chép Koi Việt - Nhật, mang lại giá trị kinh tế cao.
Năm 2012, nhận thấy cần có hướng đi mới để phát triển kinh tế gia đình, vợ chồng chị Hạnh mạnh dạn cải tạo diện tích đất sâu trũng, xen kẹp (từ việc dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất của các hộ dân trong thôn) thành khu nuôi trồng tập trung, xây dựng trang trại với quy mô khoảng 18.000m².
Thời gian đầu, trang trại chủ yếu nuôi các loại cá truyền thống như: cá chép, cá trắm thương phẩm. Với tổng vốn đầu tư ban đầu hơn 2 tỷ đồng, mỗi năm mô hình cho thu nhập hàng trăm triệu đồng, cao hơn nhiều so với sản xuất lúa trước đây. Tuy nhiên, quá trình nuôi cá thương phẩm còn nhiều vất vả, hiệu quả chưa thực sự bền vững, khiến chị Hạnh luôn trăn trở tìm hướng đi phù hợp hơn.
Qua tìm hiểu thông tin trên internet, chị Hạnh biết đến giống cá chép Koi - loài cá cảnh có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng. Năm 2016, chị quyết định chuyển hướng sang nuôi cá chép Koi.
Để triển khai mô hình, chị nhập cá giống từ Hải Phòng (loại 20 con/kg) về nuôi tại các ao lớn; sau thời gian chăm sóc, cá được chuyển sang bể nhỏ để xử lý, đảm bảo chất lượng trước khi xuất bán ra thị trường. Khi đạt trọng lượng khoảng 1kg/con, cá có giá bán trung bình khoảng 400 nghìn đồng/kg.
Gia đình chị Bùi Thị Hạnh chủ động nhân giống cá chép Koi tại trang trại, vừa phục vụ nuôi thương phẩm vừa bán ra thị trường.
Tuy mang lại giá trị kinh tế cao, song nuôi cá chép Koi đòi hỏi kỹ thuật khắt khe, tỷ lệ rủi ro lớn, nếu không nắm vững quy trình có thể dẫn đến thua lỗ. Trải qua quá trình tích lũy kinh nghiệm, từng bước làm chủ kỹ thuật chăm sóc và nhân giống, đến năm 2020, gia đình chị Hạnh đã chủ động sản xuất cá giống tại chỗ, vừa phục vụ nuôi thương phẩm, vừa cung ứng ra thị trường.
Hiện nay, trang trại của chị Hạnh nuôi đa dạng các dòng cá chép Koi, gồm cá chép Koi thuần Việt và cá chép Koi F1 (được sinh sản tại Việt Nam từ cá bố mẹ Nhật Bản) với các dòng phổ biến như Benigoi (màu đỏ), Shiro (trắng - đen), Matsuba (màu vàng) và Kohaku (trắng - đỏ)…
Trung bình mỗi năm, trang trại cung cấp ra thị trường từ 30 - 40 tấn cá chép Koi giống và cá chép Koi thương phẩm, mang lại thu nhập trên 1,5 tỷ đồng.
Với vai trò Chi hội trưởng Chi hội Nông dân thôn Bối La Vậy, chị Bùi Thị Hạnh đã tích cực chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật nuôi cá Koi cho các hội viên.
Không chỉ phát triển hiệu quả tại các mô hình nuôi ao, việc nuôi cá chép Koi còn được mở rộng với nhiều cách làm sáng tạo, phù hợp điều kiện thực tế.
Tại tổ dân phố Hồng Hà (phường Thiên Trường), anh Phan Văn Sơn đã mạnh dạn triển khai mô hình nuôi cá chép Koi trong hệ thống lồng bè trên sông Hồng.
Anh Sơn cho biết: “Ban đầu tôi phải thuê ao của các hộ dân để nuôi cá chép Koi, tuy nhiên trong quá trình nuôi nhận thấy còn nhiều hạn chế về nguồn nước, phải thường xuyên thay nước, xử lý môi trường khá tốn kém. Từ thực tế đó, năm 2012, nhận thấy lợi thế nguồn nước sông Hồng dồi dào, lưu thông tự nhiên, hàm lượng oxy tốt, tôi đã tìm hiểu và quyết định thử nghiệm nuôi cá chép Koi trên lồng bè. Ý tưởng này ban đầu vấp phải sự phản đối từ gia đình bởi nhiều người cho rằng cá chép Koi chỉ phù hợp với môi trường nuôi cảnh trong điều kiện nước được kiểm soát. Tuy nhiên, tôi đã kiên trì thử nghiệm, từng bước tập cho cá thích nghi với môi trường nước sông. Sau nhiều lần điều chỉnh kỹ thuật và chế độ chăm sóc, mô hình đã mang lại kết quả tích cực, giúp giảm đáng kể chi phí. Để duy trì hiệu quả, người nuôi cần thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết, mực nước, chủ động phòng bệnh và đảm bảo nguồn thức ăn phù hợp nhằm hạn chế rủi ro”.
Anh Phan Văn Sơn (phường Thiên Trường) thành công với mô hình nuôi cá chép Koi trong lồng bè trên sông Hồng.
Hiện nay, gia đình anh Sơn duy trì 12 lồng nuôi, mỗi lồng có diện tích khoảng 54m², thả nuôi hơn 2.000 con cá chép Koi các loại. Hệ thống lồng được thiết kế chắc chắn bằng khung sắt, bao bọc bởi 3 lớp lưới, kết hợp phao nổi bằng thùng phuy, đặt cách bờ từ 3-5m, vừa đảm bảo an toàn, vừa không ảnh hưởng đến dòng chảy. Trung bình mỗi năm, anh xuất bán trên 20 tấn cá chép Koi thương phẩm tới nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, mang lại thu nhập hơn 2 tỷ đồng.
Bên cạnh việc nuôi thành công cá chép Koi, anh Sơn còn tích cực hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật nuôi cá chép Koi và các loại cá cảnh cho người dân trong vùng, đồng thời liên kết bao tiêu sản phẩm đầu ra. Nhờ đó, sản lượng cá chép Koi cung ứng ra thị trường thông qua mô hình liên kết mỗi năm đạt trên 40 tấn, góp phần nâng cao thu nhập và tạo việc làm ổn định cho nhiều hộ dân địa phương.
Có thể thấy, từ những cách làm sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế, mô hình nuôi cá chép Koi trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, mở ra hướng phát triển mới trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, phù hợp với xu thế nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.