Trên sàn London, giá cà phê robusta kỳ hạn giao tháng 5/2026 quay đầu giảm 37 USD (-1%) xuống 3.644 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 7/2026 giá giảm 39 USD/tấn (-1,11%) xuống 3.442 USD/tấn, kỳ hạn giao tháng 9/2026 giá giảm 35 USD/tấn (-1,02%) xuống 3.357 USD/tấn. Các kỳ hạn khác giá đều giảm 27-30 USD/tấn.
Tương tự, trên sàn New York, giá cà phê arabica giao tháng 5/2026 giảm 1,15 US cent/pound (-0,37%) xuống 305,25 US cent/pound. Giá cà phê giao tháng 7/2026 giữ nguyên ở 290,7 US cent/pound, kỳ hạn giao tháng 9/2026, giá giảm nhẹ 0,35 8 US cent/pound xuống 280,25 US cent/pound. Các kỳ hạn khác giá giảm nhẹ 0,1 US cent/pound.Theo Barchart, giá cà phê chốt phiên diễn biến hỗn hợp vào thứ Tư, chịu áp lực khi USD mạnh lên. Đà giảm của arabica phần nào hạn chế trong bối cảnh lượng tồn kho cà phê sụt giảm sau khi tồn kho cà phê arabica trên sàn ICE giảm xuống mức thấp nhất trong 2 tháng, chỉ còn 494.508 bao hôm thứ Ba 28/4.
Lo ngại cuộc xung đột Mỹ-Iran kéo dài sẽ khiến eo biển Hormuz tiếp tục bị đóng cửa và làm gián đoạn nguồn cung cà phê toàn cầu là yếu tố hỗ trợ cho giá cà phê. Việc đóng cửa eo biển này đã thắt chặt nguồn cung cà phê bằng cách làm tăng giá cước vận tải toàn cầu, phí bảo hiểm, phân bón và chi phí nhiên liệu, đồng thời đẩy cao chi phí cho các nhà nhập khẩu và rang xay cà phê.
Theo hãng giao dịch I & M Smith, trên thị trường kỳ hạn, giá cà phê tiếp tục nhận được sự hỗ trợ do hạn chế về nguồn cung và thách thức logistics do yếu tố vĩ mô thúc đẩy.
Thị trường nội địa Brazil vẫn thắt chặt đáng kể, khi các nhà sản xuất có tiềm lực tài chính áp dụng cách tiếp cận bán hàng thận trọng, bất chấp kỳ vọng về một vụ mùa lớn sắp tới. Đồng thời, căng thẳng địa chính trị ở Trung Đông đang góp phần tạo ra một môi trường logistics toàn cầu ngày càng phức tạp và khó đoán định. Sự gián đoạn đối với các tuyến vận tải trọng yếu, cùng với chi phí vận chuyển tăng cao và thời gian quá cảnh kéo dài, đang hạn chế dòng chảy hiệu quả của cà phê từ nơi sản xuất đến điểm đến.
Hệ quả là, các thị trường kỳ hạn đang tiếp tục giao dịch với mức chênh lệch lớn về giá (spread) giữa các tháng gần, phản ánh mức phí cao đối với việc giao hàng ngay so với các vị thế kỳ hạn.
Cấu trúc này cho thấy tình trạng thắt chặt liên tục trên thị trường thực tế, khi người mua cạnh tranh để giành lấy lượng hàng giao ngay hạn chế.
Lượng tồn kho đạt chuẩn và tại các sàn giao dịch điểm đến vẫn ở mức tương đối thấp; và trong bối cảnh các điểm nghẽn vận chuyển hiện tại cùng mô hình găm hàng tại nơi xuất xứ, sự tập trung tiếp tục hướng vào mùa vụ bội thu ở Brazil, với cà phê Conilon robusta đang thu hoạch và arabica chế biến khô - sẽ bắt đầu thu hoạch từ giữa năm.
Lượng tồn kho cà phê arabica chế biến ướt đạt chuẩn trên sàn giao dịch New York hôm 27/4 giảm 15.374 bao xuống 497.462 bao, với 73,68% (366.552 bao) lượng tồn kho đạt chuẩn này được giữ tại châu Âu và 26,32% còn lại (130.910 bao) tại Mỹ.
Trong số này, 15.943 bao, tương đương 3,2%, cà phê được đăng ký và lưu trữ trong các kho đạt chuẩn của sàn giao dịch tại các quốc gia tiêu thụ là cà phê arabica chế biến ướt của Brazil, và thêm 26,12% cà phê đạt chuẩn từ Honduras với 129.998 bao và 14,07% từ Peru với tổng cộng 70.004 bao.
Lượng tồn kho cà phê robusta đạt chuẩn trên Sàn giao dịch London hôm 27/4 đạt 634.167 bao, giảm 72.833 bao, tương đương 10,30%, so với cùng thời điểm năm ngoái khi lượng tồn kho robusta đạt chuẩn ghi nhận 707.000 bao hôm 28/4/2025.
Lượng Tồn kho Đạt chuẩn trên Sàn London đã tăng 9,67% kể từ đầu năm 2026. Tồn kho cà phê robusta Châu Âu giữ trên sàn ICE bao gồm cà phê có nguồn gốc từ các nhà sản xuất chính trên toàn cầu, bao gồm Việt Nam, Uganda, Indonesia và Brazil.
Những mức tồn kho này đóng vai trò là chỉ số quan trọng về nguồn cung sẵn có cho ngành rang xay châu Âu, đặc biệt là đối với các dòng cà phê phối trộn và sản xuất cà phê hòa tan. Trong các giai đoạn gần đây, mức tồn kho đã phản ánh sự cân bằng giữa dòng chảy xuất khẩu ổn định từ nơi xuất xứ, đáng chú ý nhất là Việt Nam, và nhu cầu nhất quán từ người tiêu thụ Châu Âu.