Tỉnh Ninh Bình hiện có trên 24.500 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó có khoảng gần 1.000 doanh nghiệp lớn vốn điều lệ trên 100 tỷ đồng. Điển hình trong sản xuất, kinh doanh là các doanh nghiệp: Tập đoàn Thành Công, Doanh nghiệp tư nhân Xuân Trường, Công ty Cổ phần Tập đoàn Xuân Thiện, Công ty Cổ phần Mặt trời Hà Nam, Công ty Cổ phần Vissai Ninh Bình...
Thời gian qua, khu vực KTTN trên địa bàn tỉnh có bước phát triển tích cực, là một trong những động lực chính của tăng trưởng kinh tế, đóng góp ổn định vào nguồn thu ngân sách, chiếm khoảng 53% số thu ngân sách địa phương, giải quyết việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Có được kết quả trên, khu vực KTTN trên địa bàn tỉnh luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của cấp ủy, chính quyền các cấp. Chương trình hành động số 05-CTr/ TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển KTTN; Kế hoạch số 35/ KH-UBND của UBND tỉnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 138/NQ-CP, Nghị quyết số 139/NQ-CP của Chính phủ và Chương trình hành động số 05-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy được triển khai nghiêm túc, rộng rãi đến cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và nhân dân, giúp nâng cao nhận thức về vai trò của KTTN.
Tư duy và nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân có sự đổi mới, hành động quyết liệt hơn, thể hiện qua số lượng hộ kinh doanh, doanh nghiệp thành lập mới ngày càng tăng.
Theo đồng chí Bùi Duy Quang, Phó Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế và các khu công nghiệp tỉnh, nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số của tỉnh trong năm 2026 và cả giai đoạn 2026-2030, Ban Quản lý Khu kinh tế và các khu công nghiệp tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 477 ngày 3/2/2026.
Trong đó, tập trung phát triển công nghiệp hiện đại, thông minh, xanh hóa, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu với nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực có sức cạnh tranh cao; chú trọng thu hút đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp nền tảng mới, công nghiệp năng lượng.
Tập trung hỗ trợ để các doanh nghiệp đầu tư, hoàn thiện hạ tầng ít nhất 10 khu công nghiệp mới (Thanh Bình 1, Thanh Bình 2, Châu Giang 2, Đồng Văn 5, Đồng Văn 6, Kim Bảng 4, Hải Long (VSIP Nam Định), Xuân Kiên, Minh Châu, Tam Điệp 2, Hồng Tiến…); đẩy nhanh tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp, thúc đẩy năng lực tham gia của doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp địa phương vào chuỗi giá trị sản phẩm.
Đạt mức tăng trưởng mạnh về thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, với mục tiêu lấp đầy từ 80-90% diện tích khu công nghiệp mới thành lập; phát triển thêm các khu công nghiệp mới, nâng cao tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ cao. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng Khu kinh tế Ninh Cơ và các khu công nghiệp theo quy hoạch.
Tập trung đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng kỹ thuật tại các khu công nghiệp trọng điểm như: Trung Thành, Xuân Kiên, Minh Châu, Kim Bảng 4, Tam Điệp 2, Phú Long, Hồng Tiến…; khẩn trương hoàn thiện thủ tục chuẩn bị đầu tư cho các khu công nghiệp còn lại để sớm khởi công trong năm 2026, bảo đảm mục tiêu thu hút đầu tư trong nhiệm kỳ 2026-2030.
Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, tạo xung lực mới, khí thế mới để phát triển KTTN, tỉnh đã tập trung đẩy mạnh cải cách, hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế, chính sách, bảo đảm và bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng và bảo đảm thực thi hợp đồng của KTTN.
Tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp FDI. Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh doanh hiệu quả, bền vững trong KTTN.
Triển khai đồng bộ, hiệu quả các nội dung điều chỉnh quy hoạch tỉnh Ninh Bình thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tạo thuận lợi cho KTTN tiếp cận các nguồn lực về đất đai, vốn, nhân lực chất lượng cao.
Quý I/2026, UBND tỉnh đã ban hành 52 quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính (TTHC) với tổng số 801 TTHC, trong đó: 657 TTHC được công bố mới, sửa đổi, bổ sung và 144 TTHC không còn phù hợp được bãi bỏ. Quý I/2026, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh đã tiếp nhận 421.387 hồ sơ, đã giải quyết 394.565 hồ sơ.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, tổng thu ngân sách Nhà nước của tỉnh đạt 12.738 tỷ đồng, đạt 15,9% dự toán năm HĐND tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa 12.436 tỷ đồng, chiếm 97,6% tổng thu và đạt 16,5% dự toán năm; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 301 tỷ đồng, chiếm 2,4% tổng thu và đạt 5,9% dự toán.
Bên cạnh kết quả đạt được, khu vực KTTN trên địa bàn tỉnh còn thiếu các doanh nghiệp có quy mô lớn, có khả năng dẫn dắt và phát triển các chuỗi giá trị. Thực tế, số doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ vẫn chiếm 97% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn.
Bên cạnh đó, năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số còn hạn chế; việc tiếp cận đất đai, tín dụng, nguồn nhân lực chất lượng cao còn gặp nhiều khó khăn; môi trường đầu tư kinh doanh vẫn còn những rào cản cần được tháo gỡ.
Trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển KTTN, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030; Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU về phát triển KTTN tỉnh Ninh Bình đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045.
Trong đó, đề ra mục tiêu đến năm 2030: Khu vực KTTN đóng góp trên 55% GRDP và 60% vốn đầu tư toàn xã hội; có trên 34.000 doanh nghiệp tư nhân hoạt động, trong đó có 15-20 doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh vùng; có từ 3-5 doanh nghiệp có thương hiệu ASEAN với quy mô đầu tư trên 1 tỷ đô la Mỹ.
Mục tiêu tầm nhìn đến năm 2045: Có trên 67.000 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; phấn đấu có từ 2 đến 3 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Kết cấu hạ tầng của tỉnh Ninh Bình phát triển đồng bộ, đồng đều, phát huy thế mạnh, lợi thế của địa phương bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội đột phá và bền vững; thu từ KTTN chiếm hơn 60% tổng thu ngân sách Nhà nước.
Tỉnh tập trung triển khai quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia gắn với khu vực KTTN trên địa bàn tỉnh.
Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong khu vực KTTN. Quy hoạch và phát triển không gian kinh tế mới cho KTTN phát triển. Đẩy mạnh công tác quy hoạch phát triển đô thị hướng biển; hình thành vùng động lực, hành lang phát triển.
Ưu tiên các công trình trọng điểm: Xây dựng cảng nước sâu tại Khu kinh tế Ninh Cơ; Cảng hàng không phía Bắc, hành lang kết nối sân bay - Hoa Lư - Tràng An, hệ thống logistics hiện đại; hình thành Khu công nghiệp văn hóa - di sản Hoa Lư; khuyến khích doanh nghiệp sáng tạo nội dung, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, thủ công mỹ nghệ.
Tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp tư nhân, liên kết chuỗi giá trị, thu hút doanh nghiệp FDI chất lượng cao. Xây dựng các chuỗi liên kết doanh nghiệp theo cụm ngành, chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, hình thành từ 5 đến 7 chuỗi liên kết; phát triển mạng lưới cung ứng nội địa.
Thành lập Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng. Thu hút doanh nghiệp FDI từ các quốc gia phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Mỹ… vào các lĩnh vực công nghệ cao, áp dụng tỷ lệ nội địa hóa phù hợp theo lộ trình trong các ngành công nghiệp nền tảng, mũi nhọn, ưu tiên.
Thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính - ngân hàng; đa dạng hóa các kênh huy động vốn; thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư. Tập trung rà soát, đề xuất để hoàn thiện cơ chế, chính sách tín dụng cho KTTN. Khuyến khích ngân hàng, tổ chức tài chính, tín dụng tăng cho vay sản xuất, đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh phát triển tín dụng xanh để hỗ trợ cho các doanh nghiệp tư nhân vay để triển khai các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị.
Mở rộng mạng lưới tài chính, quỹ đầu tư và dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp. Phát huy vai trò của Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh, Hội doanh nhân trẻ, Hội nữ doanh nhân,… và các chi hội trực thuộc trong kết nối, hỗ trợ, đại diện tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp; tham gia xây dựng, phản biện chính sách, hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và thúc đẩy liên kết, hình thành chuỗi giá trị, góp phần phát triển KTTN bền vững