
Theo gia phả dòng họ Trần, ngôi nhà số 7 phố Bến Ngự (trước đây là số 49 phố Bến Gỗ) do cụ Trần Đình Lâm (tức cụ Nhì Lâm) xây dựng vào năm Kỷ Dậu 1849. Con trai cụ là Trần Doãn Đạt, đích tôn là Trần Bích San đều là những danh nho nổi tiếng của Thành Nam từ thế kỷ XIX.
Được sự dạy dỗ của cha là cụ Trần Đình Lâm, ông Trần Doãn Đạt đã thi đỗ Phó bảng, làm quan đến chức Án sát sứ huyện Hưng Hoá. Người con cả của ông là Trần Bích San cũng sớm nổi tiếng thông minh, năm 21 tuổi đỗ Tú tài, đến năm 25 tuổi trở thành người đầu tiên của trấn Sơn Nam đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội và Đình, được mệnh danh là Tam nguyên Vị Xuyên. Em ruột ông là Trần Đình Lân cũng đỗ đạt, được triều đình bổ nhiệm giữ chức Tri phủ Nho Quan.

Nghe danh tiếng của Tam nguyên Trần Bích San, Vua Tự Đức đã cho gọi ông vào bệ kiến. Trước tài năng và khả năng ứng đối xuất sắc của ông, nhà vua đã ban đổi tên ông thành Trần Hi Tăng, với kỳ vọng ông sẽ sánh ngang Vương Tăng - vị Tam nguyên nổi tiếng đời Tống (Trung Quốc).
Khi làm quan, tư tưởng của Tam nguyên Trần Bích San có nhiều điểm tiến bộ. Trong bài đối sách ở kỳ thi Đình, ông đã đề xuất nhiều kiến nghị đổi mới như: cải cách việc đào tạo, tuyển chọn nhân tài, coi trọng võ bị, phát triển công thương nghiệp, mở rộng giao thương và cử người ra nước ngoài học tập…


Vào những năm đầu thế kỷ XX, các phong trào canh tân yêu nước của nhân sĩ tiến bộ như: Đông du, Đông kinh nghĩa thục, Canh tân xã hội, Cải lương hương tục,... diễn sôi nổi tại địa bàn thành phố Nam Định, nhưng mạnh mẽ nhất, quyết liệt nhất và ảnh hưởng sâu rộng nhất là phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Thành Nam, tiêu biểu là các phong trào cách mạng của công nhân Nhà máy sợi Nam Định.
Trong đội ngũ sĩ phu, nhân sĩ yêu nước thời kỳ này, Tam nguyên Trần Bích San được biết đến là một nhà nho có tư tưởng tiến bộ. Bằng những bản điều trần và các tác phẩm văn chương, ông đã mạnh dạn đề cập đến thời cuộc, đề xuất những chủ trương canh tân đất nước, đồng thời, bày tỏ thái độ căm phẫn trước sự xâm lược của thực dân, phê phán sự hèn yếu, bảo thủ của một bộ phận quan lại phong kiến và những bất cập của xã hội trong buổi giao thời. Những tư tưởng tiến bộ ấy đã góp phần khơi dậy ý thức đổi mới và tinh thần yêu nước trong giới trí thức đương thời.



Đầu thế kỷ XX, khi phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ phát triển mạnh, nhiều sách báo, tài liệu yêu nước từ nước ngoài được bí mật chuyển về thành phố. Một số trí thức, học sinh trong thành phố đã bắt liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - tổ chức do đồng chí Nguyễn Ái Quốc thành lập tại Quảng Châu (Trung Quốc) vào năm 1925 nhằm đào tạo cán bộ cho phong trào cách mạng Việt Nam.
Tại nhà số 7 phố Bến Ngự, từ cuối năm 1925, một đường dây liên lạc bí mật được tổ chức để đưa người yêu nước Nam Định sang Quảng Châu dự huấn luyện, làm nhân tố cốt cán gây dựng phong trào và xây dựng các cơ sở cách mạng trong nước sau này. Chủ của ngôi nhà số 7 Bến Ngự lúc đó là bà Nguyễn Phương Trìu, thường gọi là bà Trần Thị Kiếm, con gái cụ Nguyễn Hữu Cương - người cùng hoạt động với cụ Nghè Giao Cù, bị giặc Pháp bắt giam ở nhà tù Cần Thơ và mất ở đó. Ngôi nhà từng là chỗ cụ Cả Cương gặp gỡ với các văn thân để bàn kế chống Pháp. Em gái của bà Phương Trìu là bà Nguyễn Hồng Đính lấy ông Ba Quyến (tức Lương Ngọc Quyến) - con trai của nhà yêu nước Lương Văn Can, người có vai trò quan trọng trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Khi về nước, trong các năm 1915, 1916, ông Ba Quyến về ẩn náu hoạt động ở nhà chị gái vợ tại số 7 phố Bến Ngự cùng với ông Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Thông Hữu…
Sau khi thành lập “Tâm Tâm xã” ở Quảng Châu (năm 1924), đồng chí Lê Hồng Sơn (tên thật là Lê Văn Phơn, nhà cách mạng tiền bối kiên trung, là thành viên nòng cốt của Tâm Tâm xã tại Quảng Châu) đã lấy nhà số 7 Bến Ngự làm nơi liên lạc. Cũng tại đây, các đồng chí Nguyễn Công Thu, Đinh Chương Dương - những thành viên tích cực của Tâm Tâm xã được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giác ngộ, huấn luyện tại Quảng Châu, đã thành lập Chi hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội đầu tiên ở Nam Định và khu vực Bắc Bộ.


Năm 1926, các cán bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội đã kết nối và tổ chức đưa một số thanh niên ưu tú sang Quảng Châu huấn luyện. Khi đồng chí Đinh Chương Dương, Nguyễn Công Việt, Đặng Châu Tuệ, Nguyễn Cồn Thu,... bị bắt, ngôi nhà số 7 phố Bến Ngự tạm thời đóng cửa một thời gian. Từ năm 1927 trở đi, đồng chí Nguyễn Danh Đới (cháu ruột của bà Nguyễn Phương Trìu) hoạt động ở Kỳ bộ của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đã lấy ngôi nhà này để làm chỗ ở, hội họp của tổ chức. Thời gian đó, nhiều học sinh yêu nước đã đến đây để học hỏi, tham gia cách mạng và sau này trở thành những nhà chính trị, nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng, trong đó có các đồng chí: Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Đặng Xuân Thiều, Nguyễn Văn Hoan, Nguyễn Danh Đới, Nguyễn Văn Năng, Nguyễn Đức Cảnh, Đặng Châu Tuệ, Nguyễn Tường Loan…
Sau đó, trong suốt giai đoạn cách mạng 1930 - 1935, trải qua nhiều lần thực dân Pháp và tay sai điên cuồng khủng bố cách mạng, ngôi nhà số 7 phố Bến Ngự và chủ nhân là bà Nguyễn Phương Trìu vẫn thể hiện rõ lòng chung thành với sự nghiệp cách mạng, tham gia ủng hộ, nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ cách mạng.
Mang một giá trị lịch sử đặc biệt, ngôi nhà số 7 phố Bến Ngự, đã chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, từ cuộc tấn công, chiếm đóng Thành Nam Định của thực dân Pháp đến các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX. Ngôi nhà đã trở thành địa điểm hội tụ của nhiều văn thân, sĩ phu yêu nước thời kỳ tiền cách mạng, đồng thời là cơ sở hoạt động bí mật, nơi gặp gỡ, chắp nối liên lạc của nhiều chiến sĩ cách mạng trong và ngoài tỉnh.
Trải qua bao biến thiên của thời gian, đến nay, ngôi nhà số 7 phố Bến Ngự vẫn cơ bản giữ được nguyên vẹn kết cấu và kiến trúc ban đầu. Theo tư liệu của gia đình, từ đường gồm 5 gian chính cùng một số công trình phụ, quay mặt về hướng Đông nhìn ra sông Đào - nơi xưa kia có bến Đò Chè tấp nập thuyền bè qua lại, buôn bán. Tường nhà được xây bằng gạch thất, mái lợp ngói nam; hệ thống cột, câu đầu, xà nhà, lá mái đều được làm bằng gỗ lim chắc chắn. Từ sân nhìn vào, 3 gian giữa được ngăn bởi hệ cửa bức bàn bằng gỗ lim; hai gian hồi xây kín, chỉ mở các cửa sổ nhỏ với hai cánh cửa gỗ. Trước đây, hai gian này được ngăn bằng cửa bức bàn, về sau mới xây tường gạch. Trên bức tường phía bên trái còn gắn tấm bia đá đỏ ghi lại những dấu tích của ngôi nhà. Cách bố trí không gian và kết cấu của hai gian hồi rất thuận lợi cho việc sinh hoạt, hội họp và che giấu lực lượng hoạt động cách mạng trong giai đoạn bí mật.

Toàn bộ mái nhà được đỡ bởi 5 hàng cột lim lớn, chân cột đặt trên các tảng đá cổ bồng, tạo nên kết cấu vững chắc, bền bỉ và thông thoáng. Gian chính giữa có bệ thờ xây bằng gạch, phía dưới được thiết kế theo dạng cuốn vòm, từng là nơi thuận lợi để các nhà yêu nước trú ẩn, cất giấu tài liệu và hoạt động bí mật trong thời kỳ đấu tranh cách mạng.
Trên bệ thờ hiện vẫn còn lưu giữ 9 hộp khám thờ nhỏ, bên trong đặt các thần chủ bằng gỗ ghi tên tuổi, chức tước của các bậc tiền nhân trong dòng họ. Phía trên bệ thờ treo bức đại tự sơn son thếp vàng đề bốn chữ "Định thế tải đức", mang ý nghĩa ca ngợi và ghi nhớ công đức của các thế hệ đi trước.
Trải qua gần 180 năm tồn tại, đã có 8 thế hệ của dòng họ Trần sinh ra, lớn lên và gìn giữ ngôi nhà. Anh Trần Văn Đức - người cháu trực hệ đời thứ 5 của Tam nguyên Trần Bích San, hiện là người lưu giữ gia phả và các tư liệu liên quan đến ngôi nhà - cho biết, trước đây khuôn viên ngôi nhà rộng khoảng 6 sào Bắc Bộ. Phía trước là vườn mai cổ thụ nên ngôi nhà còn có tên gọi Cổ Mai Trang. Hiện nay, diện tích khuôn viên chỉ còn khoảng 200 m², trong đó, ngôi nhà cổ 5 gian rộng 97,6 m². Trước kia, ngôi nhà có bậc tam cấp, tuy nhiên, do nền sân thấp hơn mặt đường, thường xuyên bị ngập úng mỗi khi mưa lớn nên gia đình đã tôn cao nền sân, vì vậy, bậc tam cấp không còn giữ được như nguyên trạng.

Theo anh Trần Văn Đức, trải qua gần hai thế kỷ cùng bao biến động của lịch sử và hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, ngôi nhà vẫn bảo tồn được phần lớn các giá trị kiến trúc nguyên gốc với tường gạch thất, mái ngói nam, hệ thống cột, xà, kèo bằng gỗ lim. Không chỉ là nơi lưu giữ ký ức, truyền thống văn hóa của nhiều thế hệ trong dòng họ Trần, ngôi nhà còn là chứng nhân lịch sử ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng của quê hương, đất nước. Những năm qua, các cấp, các ngành cùng gia đình đã phối hợp thực hiện công tác quản lý, bảo tồn và tu bổ di tích. Năm 2003, mái ngói của ngôi nhà được đảo lại lần thứ hai; đến năm 2018 tiếp tục được lợp mới nhằm bảo đảm độ bền vững nhưng vẫn giữ nguyên dáng vẻ kiến trúc truyền thống.
Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, năm 1991, ngôi nhà số 7, phố Bến Ngự đã được Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hoá cấp quốc gia, trở thành địa chỉ đỏ góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống hiếu học và tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.









