“Ai về Liêm Thuận quê ta/Sông, Gừa, Lau, Chảy, Vải, Nga, Thị, Chằm/Xin mời quý khách dừng chân/Lắng nghe câu hát trống quân ngọt ngào…”. Giữa mênh mang đồng nước vùng chiêm trũng xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam cũ (nay là xã Thanh Bình, tỉnh Ninh Bình), lưu truyền một làn điệu dân ca đã theo bước chân người dân suốt hơn nghìn năm lịch sử. Những câu hát mộc mạc, sâu lắng, vang lên cùng nhịp trống quân “thì - thình” đã gửi gắm bao tâm tình về quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa và nhịp sống lao động của cư dân nơi đây.
Một buổi luyện tập của Câu lạc bộ hát Trống quân Liêm Thuận (xã Thanh Bình).
Theo thần phả làng Chảy và làng Gừa (xã Thanh Bình), hát Trống quân Liêm Thuận gắn liền với dòng La Giang quanh năm nước ngập mênh mông. Nơi đây từng được các Vua Trần lựa chọn làm căn cứ cất giấu quân lương trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông xâm lược. Từ những đội thủy quân ngày đêm tuần tra, canh giữ kho lương, những câu hát cùng tiếng trống canh vang lên giữa không gian sông nước tĩnh lặng, thấm sâu vào đời sống sinh hoạt thường nhật của cư dân địa phương. Giữa không gian bao la, những lúc hiu quạnh, người dân cất tiếng hát để xua tan mệt mỏi. Người này “xướng”, người kia nghe thấy liền “họa” theo, đối đáp ngẫu hứng, lâu dần hình thành nên những cuộc hát trống quân.
Từ những đám hát nhỏ lẻ, điệu hát lan tỏa ra khắp các thôn làng, rồi trở thành những cuộc hát hội, nơi làng này đối tài với làng kia. Hát hội Trống quân thường diễn ra vào rằm tháng 8 và dịp hội làng hằng năm. Đối với hội hát, theo tục lệ xưa, trước rằm tháng 8, các làng bắt đầu chuẩn bị thuyền, trống, tuyển chọn đội hát đại diện cho làng mình.
Trong ngày hội hát, các làng làm lễ tại đình làng rồi chèo thuyền ra cánh đồng tổ chức hát hội. Ngày hội thi hát đông vui, hàng trăm thuyền của các đội hát, thuyền của người dân khua chèo chen kín cả cánh đồng. Không chỉ là hình thức vui chơi, giao duyên, hát trống quân còn mang ý nghĩa tinh thần sâu sắc: Qua lời ca, cha ông soi ngắm trăng sao, thời tiết để đoán định việc làm ăn, mùa vụ sắp tới. Câu hát vì thế vừa hồn nhiên, dí dỏm, vừa hàm chứa tri thức dân gian đúc kết qua nhiều thế hệ. Nếu như ở nhiều nơi, trống quân hát trên cạn, ngoài sân đình hay bãi cỏ rộng, thì ở xã Thanh Bình, không gian sông nước, ao hồ lại là “sân khấu” chính của hát trống quân. Người dân nơi đây đã sáng tạo, đưa trống quân từ trên cạn xuống thuyền, phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhịp sống nghề chài lưới.
Điểm độc đáo nổi bật của hát trống quân Liêm Thuận chính là nhạc cụ. Trống không làm bằng gỗ mít, mặt bưng da trâu mà được làm từ chum sành hoặc vò, vại sành - những vật dụng quen thuộc trong đời sống nông thôn xưa. Để làm trống quân hát dưới thuyền, người dân đặt chiếc chum sành giữa sạp thuyền, đậy lên miệng chum một tấm gỗ mỏng, dựng thanh tre làm trụ chống dây, kéo căng dây thừng buộc vào hai bên thuyền. Dây được căng không đều, một bên dài, một bên ngắn, tạo ra hai âm thanh khác nhau: âm “thì” và âm “thình”. Khi hai thuyền gặp nhau, tiếng trống “thì - thình” vang lên, mở đầu cho những canh hát đối đáp đầy ngẫu hứng.
Hát Trống quân Liêm Thuận có hình thức hát trên cạn và hát dưới thuyền. Trước kia, hát dưới thuyền là hình thức phổ biến, bởi phù hợp với nghề chài lưới gắn với chiếc thuyền nan khuya sớm. Những đêm trăng thanh gió mát, trai gái chèo thuyền, cất tiếng hát giao duyên. Hát hội kết thúc nhưng những cuộc hát lẻ còn kéo dài suốt tuần trăng, khởi đầu của bao cuộc hẹn hò, bao mối lương duyên. Về nội dung, hát trống quân chia thành hai thể loại chính là hát giao duyên và hát thờ. Hát giao duyên gồm các làn điệu: Hát trống quân, hát mó cá, hát đúm, xin hoa đố chữ...; hát thờ gồm các làn điệu: Giáo trống, giáo pháo, thơ nhang...
Lời hát thường theo thể thơ lục bát hoặc biến thể song thất lục bát, gần với tiếng nói đời thường. Những câu hát hóm hỉnh, tế nhị, sâu sắc, đòi hỏi người hát phải nhanh trí, ứng khẩu thành thơ, đối đáp linh hoạt nhưng vẫn giữ được sự nhã nhặn, tránh lố lăng, dung tục.
Theo giới nghiên cứu âm nhạc, chính âm hưởng dịu dàng, réo rắt của tiếng đệm cùng cách đưa hơi đặc trưng đã tạo cho hát Trống quân Liêm Thuận sức truyền cảm mạnh mẽ. Lối xưng hô anh và em, chàng và nàng, ta và mình thể hiện rõ nét tính chất giao duyên, gắn bó cộng đồng. Từ lời hát, giọng ca đến phong thái ứng đối, đẩy thuyền... đều là những tinh tuý được chắt lọc sau hàng nghìn năm lưu truyền, gìn giữ.
Một buổi luyện tập của Câu lạc bộ hát Trống quân Liêm Thuận (xã Thanh Bình).
Hát Trống quân Liêm Thuận cũng từng đứng trước nguy cơ mai một khi những làn điệu cổ chỉ còn được nhớ và lưu giữ bởi số ít người cao tuổi. Đến năm 2006, khi Câu lạc bộ hát Trống quân Liêm Thuận được thành lập, việc sưu tầm, phục dựng và truyền dạy điệu hát được triển khai bài bản, có sự chung tay của chính quyền địa phương và cộng đồng. Người có nhiều công lao trong nỗ lực sưu tầm, gìn giữ hàng trăm bài hát Trống quân cổ của quê hương là Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đình Lâu. Không chỉ lưu giữ vốn cổ, ông còn sáng tác thêm nhiều lời mới phản ánh những đổi thay của quê hương.
Những năm gần đây, hát Trống quân Liêm Thuận đã được đưa vào truyền dạy cho trẻ em 5 tuổi ở một số trường mầm non và học sinh của các trường tiểu học, THCS trên địa bàn xã trong các chương trình ngoại khóa. Câu lạc bộ hát Trống quân Liêm Thuận thường xuyên biểu diễn trong chương trình văn hóa, văn nghệ, lễ hội của thôn, xã và tham gia các liên hoan dân ca do ngành Văn hóa tổ chức, góp phần đưa điệu hát đến gần hơn với công chúng. Việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận hát Trống quân Liêm Thuận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là sự ghi nhận xứng đáng đối với giá trị độc đáo của loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian này, trở thành động lực để cộng đồng người dân Thanh Bình tiếp tục bảo tồn, phát huy.
Từ những câu hát từng ngân vang giữa không gian sông nước, trong những canh hát đối đáp trên thuyền nan dưới ánh trăng rằm sáng vằng vặc thuở nào, đến hội hát trống quân được tổ chức trang trọng, đúng quy cách trên hồ nước bên cạnh đình làng Chảy mỗi dịp hội làng hôm nay, hát Trống quân Liêm Thuận như sợi dây bền chặt kết nối mạch nguồn bản sắc văn hóa trong đời sống tinh thần của người dân địa phương.