Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Thứ Ba, 30/06/2026, 12:39
Sáng 30/6, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và chỉ đạo Hội nghị.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự hội nghị. (Ảnh: nhandan.vn)
Dự Hội nghị tại điểm cầu Trung ương có các đồng chí: Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội; Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư. Dự hội nghị có các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương,…
Hội nghị được kết nối tới gần 35.000 điểm cầu trên cả nước với hơn 2,1 triệu đại biểu tham dự.Đồng thời được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam, phát thanh trực tiếp trên kênh thời sự VOV1, VOV giao thông của Đài Tiếng nói Việt Nam, phát sóng trên các nền tảng số.
Các đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Tỉnh uỷ Ninh Bình.Các đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Tỉnh uỷ Ninh Bình.
Tại điểm cầu Tỉnh uỷ Ninh Bình, dự hội nghị có các đồng chí: Trần Huy Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ; Trần Đăng Quỳnh, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ; Lê Quốc Chỉnh, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Thanh Bình, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Mai Văn Tuất, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; Đinh Thị Lụa, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh.
Cùng dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy; lãnh đạo các ban, sở, ngành, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; đại diện các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn; báo cáo viên Trung ương, báo cáo viên cấp tỉnh; đại diện một số tập đoàn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh; báo cáo viên Trung ương, báo cáo viên cấp tỉnh.
Trên địa bàn tỉnh còn có 161 điểm cầu trực tuyến và 4.546 điểm theo dõi hội nghị qua các kênh phát thanh, truyền hình và nền tảng số với trên 148.000 đại biểu tham gia.
Quang cảnh hội nghị tại điểm cầu Tỉnh uỷ Ninh Bình.
Tại hội nghị, các đại biểu đã nghe đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ quán triệt những nội dung cốt lõi, điểm mới của Nghị quyết số 10-NQ/TW.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc truyền đạt nội dung cơ bản Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. (Ảnh: Nhandan.vn)
Theo đó, Nghị quyết đã khẳng định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển. Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia; tạo động lực quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045.
Cụ thể, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Giai đoạn 2026-2030 thu hút vốn đầu tư nước ngoài đăng ký khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD/năm); vốn thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm). Khoảng 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; tăng 30% số tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam; thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm, trung tâm dịch vụ dùng chung; thu hút các doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng có công nghệ lõi, công nghệ chuyên biệt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nâng tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45-50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI; tỷ lệ lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động đạt khoảng 80%...
Đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và điều hành của khu vực có sức cạnh tranh cao của châu Á, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; thị trường vốn phát triển hiện đại, minh bạch, an toàn, tiệm cận thông lệ quốc tế. Phấn đấu khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước; góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Cũng tại hội nghị, đại diện các địa phương và doanh nghiệp đã trình bày các tham luận, chia sẻ những kết quả, kinh nghiệm trong thu hút, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài; đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng minh bạch, thuận lợi.
Các đại biểu khẳng định Nghị quyết số 10-NQ/TW được ban hành là bước đột phá quan trọng về tư duy và định hướng chiến lược của Đảng đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tạo cơ sở chính trị vững chắc để thu hút có chọn lọc các dòng vốn FDI chất lượng cao, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. (Ảnh: Nhandan.vn)
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, Nghị quyết số 10-NQ/TW được Bộ Chính trị ban hành trên cơ sở tổng kết 40 năm thực hiện chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng. Đây là nghị quyết thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển của Đảng, không còn thuần túy là mở cửa và thu hút vốn mà là chủ động lựa chọn và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để tạo ra các động lực mới cho sự phát triển của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, Nghị quyết đặt ra những mục tiêu yêu cầu cao hơn về phát triển kinh tế vốn đầu tư nước ngoài gắn với nâng cao năng lực nội sinh về sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, Việt Nam cần thay đổi căn bản tư duy phát triển. Thay vì chỉ cạnh tranh bằng ưu đãi hay chi phí thấp, cần chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, hạ tầng hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao, dịch vụ công chuyên nghiệp, môi trường đầu tư ổn định và có khả năng dự báo.
Hiệu quả của thu hút đầu tư nước ngoài không chỉ được đo bằng quy mô vốn đăng ký mà phải được đánh giá bằng năng suất, chất lượng công nghệ, số lượng việc làm chất lượng cao được tạo ra, mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng toàn cầu cũng như khả năng lan tỏa tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đồng chí nhấn mạnh, việc triển khai Nghị quyết số 10 phải đượcgắn chặt với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị. Khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và khu vực FDI không phát triển tách rời mà cần bổ trợ, liên kết và cộng hưởng trong một chiến lược phát triển chung.
Để đưa Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các cấp, các ngành, địa phương tập trung thực hiện đồng bộ 8 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trước hết là thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài, xác định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, được tạo điều kiện phát triển lâu dài, bình đẳng, đồng thời kiên quyết sàng lọc các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường, chuyển giá, trốn thuế hoặc tiềm ẩn rủi ro về quốc phòng, an ninh và an ninh dữ liệu.
Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định và có tính dự báo cao; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, khắc phục tình trạng chồng chéo giữa các quy định, chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, lấy doanh nghiệp và nhà đầu tư làm trung tâm phục vụ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phát triển mạnh hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước và tăng cường liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam, coi đây là nhiệm vụ trung tâm của Nghị quyết. Các bộ, ngành và địa phương không chỉ tập trung thu hút các tập đoàn đa quốc gia mà phải đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng thông qua nâng cao năng lực quản trị, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và đổi mới công nghệ.
Bên cạnh đó, cần ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường; đầu tư đồng bộ hạ tầng chiến lượcnhằm đáp ứng yêu cầu của các dự án công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu, trung tâm dữ liệu và các ngành kinh tế mới. Công tác xúc tiến đầu tư cũng phải được đổi mới căn bản theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, xác định rõ đối tác chiến lược, ngành nghề ưu tiên và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để đón các dự án quy mô lớn, có sức lan tỏa. Phát triển thị trường vốn hiện đại, minh bạch, an toàn nhằm thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn; từng bước xây dựng Việt Nam không chỉ là điểm đến của các nhà máy sản xuất mà còn là trung tâm tài chính, đổi mới sáng tạo.
Nhấn mạnh Nghị quyết chỉ thực sự có ý nghĩa khi được tổ chức thực hiện quyết liệt, thực chất, lấy kết quả làm thước đo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu mỗi bộ, ngành, địa phương khẩn trương xây dựng chương trình hành động với mục tiêu rõ ràng, phân công cụ thể, xác định rõ trách nhiệm và thời hạn thực hiện. Mỗi địa phương cần xây dựng chiến lược thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch, lợi thế so sánh và định hướng phát triển. Việc đánh giá hiệu quả thu hút đầu tư cần dựa trên các tiêu chí thực chất như trình độ công nghệ, giá trị gia tăng, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước, hiệu quả sử dụng đất, đóng góp ngân sách, đào tạo nhân lực và bảo vệ môi trường.
Gửi thông điệp tới cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư nước ngoài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cam kết Việt Nam sẽ tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, ưu tiên phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng và đổi mới sáng tạo với tinh thần “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”.
Đồng chí nhấn mạnh, Việt Nam không theo đuổi mục tiêu thu hút đầu tư bằng mọi giá mà hướng tới lựa chọn các nhà đầu tư có trách nhiệm, gắn bó lâu dài, cùng chia sẻ công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và tạo dựng những giá trị bền vững. Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 10 là thu hút đầu tư nước ngoài để làm giàu nội lực quốc gia, tạo nền tảng đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.