Có 79 kết quả được tìm thấy
Ngày 12/4/1975, Quân khu 9 tăng cường các cuộc tiến công vào các căn cứ địch. Thường vụ Thành ủy Sài Gòn-Gia Định ra nghị quyết chuẩn bị cho chiến dịch và giao nhiệm vụ cho các đơn vị, các lực lượng phối hợp với các cánh quân chủ lực.
Ngày 11/4/1975, chiến trận ở Xuân Lộc diễn ra ác liệt. Các lực lượng vũ trang Quân khu 9 đẩy mạnh các hoạt động phối hợp.
Ngày 11/4/1975, chiến trận ở Xuân Lộc diễn ra ác liệt. Các lực lượng vũ trang Quân khu 9 đẩy mạnh các hoạt động phối hợp.
Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025), ngày 10/4, Bộ CHQS tỉnh tổ chức Hội thảo khoa học “Một số trận đánh điển hình của quân và dân tỉnh Ninh Bình giai đoạn 1945 - 1975” .
Ngày 10/4/1975, Ban Bí thư ra thông tri về tuyên truyền chiến thắng, động viên thi đua với miền nam ruột thịt, giành nhiều thắng lợi mới.
Ngày 9/4/1975, Bộ Chính trị phê chuẩn kế hoạch chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định. Chiến dịch Xuân Lộc-Long Khánh mở màn.
Đây là chiến dịch đặc biệt quan trọng, diễn ra rất ác liệt vì địch tăng cường phòng thủ và kêu gọi binh sĩ tử thủ. Tại đây ta đã dùng mưu kế đập tan “cánh cửa thép” Xuân Lộc, mở rộng đường tiến thực hiện Chiến dịch Hồ Chí Minh. Chiến dịch Xuân Lộc được coi là một điển hình về nghệ thuật dùng mưu kế đánh địch trong kho tàng lịch sử quân sự Việt Nam hiện đại.
Ngày 8/4/1975, Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định được thành lập. Máy bay ta ném bom Dinh Độc Lập.
Ngày 7/4/1975, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho các đơn vị: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận giải phóng miền nam. Quyết chiến và toàn thắng”.
Ngày 6/4/1975, Thường vụ Trung ương Cục miền nam ra chỉ thị đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng thành thị. Thành ủy Sài Gòn-Gia Định ban hành tài liệu “Những việc cần làm ngay trong các giai đoạn trước, trong và sau khi thành phố được giải phóng”.
Chỉ thị ngày 6/4/1975 của Trung ương Cục miền Nam đã đẩy nhanh quá trình tiến tới giải phóng các đô thị tỉnh lỵ, huyện lỵ tại địa bàn Nam bộ và cực Nam Trung bộ, trong đó có thành phố Sài Gòn-Gia Định.
Ngày 5/4/1975, thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị giải phóng miền nam trước mùa mưa, cánh quân Duyên Hải gồm Quân đoàn 2 và Sư đoàn 3 Quân khu 5, được thành lập. Bộ đội Trường Sơn tập trung lực lượng khẩn trương vận chuyển quân và hàng hóa vào miền nam.
8 giờ 20 phút ngày 3/4/1975, cờ cách mạng tung bay tại cơ quan đầu não của ngụy quyền tỉnh, thị xã Đà Lạt và tỉnh Tuyên Đức đã hoàn toàn giải phóng. Như vậy, đến ngày 3/4/1975, hai tỉnh phía nam Tây Nguyên là Tuyên Đức và Lâm Đồng hoàn toàn giải phóng; chiến dịch Tây Nguyên kết thúc toàn thắng, vượt xa dự kiến ban đầu.
Ngày 2/4/1975, ta giải phóng tỉnh Khánh Hòa. Tổng cục Chính trị ra chỉ thị công tác chính trị trước thời cơ chiến lược mới, động viên bộ đội xốc tới giải phóng hoàn toàn miền nam.
Trưa 1/4/1975, thị xã Tuy Hòa và toàn tỉnh Phú Yên đã được giải phóng. Bộ Chính trị chỉ thị: “Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu”. Quân đoàn 1 xuất phát hành quân thần tốc vào nam.
Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn trong thời gian sớm nhất, với tư tưởng chỉ đạo “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”.
Sau trận Buôn Ma Thuột, cục diện chiến trường chuyển biến mau lẹ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương nhanh chóng nắm bắt thời cơ thuận lợi, giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.
6 giờ sáng ngày 11/3/1975, sau khi lực lượng pháo binh bắn dồn dập vào các mục tiêu trong thị xã Buôn Ma Thuột, quân ta tấn công như vũ bão vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy. Trong cơn tuyệt vọng, địch điên cuồng chống cự quyết liệt. Máy bay địch ném bom xuống đường phố. Xe tăng M48, M41 của địch liều mạng xông ra bịt các ngả đường.
2 giờ sáng 10/3/1975, mở màn trận Buôn Ma Thuột, các đội đặc công của Trung đoàn 198 luồn sâu lót sẵn bất ngờ nổ súng tiến công kho Mai Hắc Đế, sân bay Hòa Bình, sân bay thị xã và hậu cứ Trung đoàn 53 ngụy, làm chủ một số mục tiêu.