Những câu chuyện tình cổ tích xoa dịu vết thương thời chiến
Chủ Nhật, 19/07/2026, 09:13
Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa đời người. Giờ đây, tại Cơ sở điều dưỡng thương binh Nho Quan (thuộc Trung tâm điều dưỡng người có công Ninh Bình) nơi gắn liền với hình ảnh những thương binh tâm thần cùng những cơn động kinh vô thức, vết sẹo đã lành, nỗi đau mất mát cũng dần nguôi ngoai theo năm tháng, nhưng tình yêu, tình người thì vẫn mãi được nhân lên. Suốt hơn 60 năm qua, nơi này không đơn thuần là một cơ sở điều trị y khoa mà đã trở thành chứng nhân cho những câu chuyện cổ tích tình yêu có thật. Ở đó, có những người con gái tuổi đôi mươi bằng một tình yêu dũng cảm, đã vượt qua mọi rào cản để trở thành “bến đỗ bình yên”, nâng niu những phần ký ức không trọn vẹn của người lính.
Ông Đặng Quốc Hiển bên người bạn đời đã dũng cảm cùng ông đi qua những năm tháng khốn khó. Ảnh: Ngọc Linh
Người lính 3 lần bị trả trầu cau và vết sẹo giấu kín của người vợ
Trong căn nhà nhỏ ấm cúng tại xã Nho Quan, người thương binh nặng Đặng Quốc Hiển và người vợ – cựu hộ lý Trần Thị Hiệp đang cùng nhau chuẩn bị bữa cơm chiều. Nhìn dáng vẻ tần tảo của bà Hiệp giờ đã ở tuổi xế chiều, sức khỏe yếu đi nhiều, và cái cách ông Hiển ân cần, quấn quýt chăm sóc ngược lại cho bà, ít ai biết rằng cuộc hôn nhân của người lính thông tin năm xưa và cô hộ lý trẻ ngày ấy đã phải trải qua những thử thách đầy nước mắt.
Quay ngược thời gian về những năm tháng chiến tranh, ông Hiển là lính thông tin thuộc Sư đoàn 324, ông đã trực tiếp đi qua những trận đánh khốc liệt nhất của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), rồi đến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị đỏ lửa (1972). Trở về từ làn mưa bom bão đạn với tỷ lệ thương tật 81% và mảnh đạn găm sâu trong sọ não, cuối năm 1973, ông được chuyển về Trại điều dưỡng thương binh C nay là Cơ sở điều dưỡng thương binh Nho Quan.
“Ngày ấy, tôi từng ba lần bị người ta trả lại trầu cau,” giọng ông Hiển chùng xuống khi nhớ lại ký ức đau buồn. Thương mẹ già mong ngóng ở quê nhà Hà Tĩnh, ông cũng từng thử mở lòng, đi hỏi vợ, mang trầu cau đến dạm ngõ. Thế nhưng, người ta ái ngại vết thương sọ não của ông, ái ngại những cơn co giật của người lính trở về từ tuyến lửa. Một hôm đi chơi về, ông chú ruột bảo: "Hiển ơi, cái Thanh nó mang trầu cau sang trả rồi...".
Ông đứng lặng người, tim thắt lại. Buồn, tủi thân và giận hờn dâng lên tột cùng. Ông tự hỏi mình đi chiến đấu vì Tổ quốc, chẳng may bị thương chứ có phải người xấu xa gì đâu mà bị chê bai, hắt hủi? Hôm sau, ông khoác ba lô quay lại đơn vị điều dưỡng, lòng tự hứa sẽ khép chặt cánh cửa hạnh phúc riêng tư. Nhưng rồi, chính tại mảnh đất Nho Quan này, cô hộ lý trẻ quê xã Gia Tường – Trần Thị Hiệp – đã bước vào cuộc đời ông như một định mệnh dịu dàng. Chứng kiến sự ân cần, chịu thương chịu khó của cô hộ lý trẻ, và vượt qua tất cả những rào cản, e ngại của gia đình, hai người đã nên duyên vợ chồng nhờ sự tổ chức vun vén của đơn vị.
Nhưng cuộc sống của một người vợ thương binh sọ não chưa bao giờ là dễ dàng. Ông Hiển bùi ngùi kể: “Đợt mới cưới, có lần tôi lên cơn động kinh vô thức, cầm cả cái gậy đánh vợ gãy tay. Lúc tỉnh lại, thấy tay bà ấy bị bó bột tôi hỏi thì bà ấy giấu biệt sợ tôi dằn vặt, nói dối tôi là bị ngã khi đi lấy cơm cho bệnh nhân. Mấy tháng sau, anh em trong trại mới kể lại tôi mới biết”.
Ở tuổi xế chiều, khi sức khỏe của bà Hiệp yếu đi nhiều, ông Hiển lại là người ân cần chăm sóc ngược lại cho bà trong từng công việc thường nhật. Ảnh: Ngọc Linh
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, người phụ nữ gan dạ ấy đã sinh cho ông 4 người con, nay đều đã trưởng thành, thành đạt. Khi chúng tôi hỏi vì sao ngày ấy một cô hộ lý trẻ trung, xinh đẹp lại chọn lấy một thương binh sọ não nặng như ông, bà Hiệp chỉ cười hiền hậu, đùa vui: "Lúc đó ế nên mới lấy đấy chứ!". Nụ cười hóm hỉnh của bà không giấu nổi một tình yêu vĩ đại – thứ tình yêu đã chiến thắng những cơn thịnh nộ vô thức của vết thương chiến tranh.
Thức tỉnh lý trí bằng tình mẫu tử và sự đồng cảm
Tại Cơ sở điều dưỡng này, câu chuyện của hộ lý Nguyễn Thị Hà và thương binh Phạm Văn Quế cũng là một biểu tượng của lòng kiên trinh. Ông Quế bị thương tại mặt trận biên giới Tây Nam năm 1978, mang trong đầu mảnh đạn tử thần khiến ông thường xuyên mất kiểm soát hành vi.
Quyết định gắn bó cuộc đời với người lính mang vết thương sọ não nặng, bà Hà chấp nhận gánh vác phần nhiều công to việc lớn trong nhà, chấp nhận những thiệt thòi riêng tư khi không thể dễ dàng sẻ chia mọi vui buồn cuộc sống cùng chồng. Thay vì mong cầu một bờ vai vững chãi lo toan mọi việc, bà tự nguyện làm điểm tựa bình yên cho ông, nhẫn nại cùng ông đi qua những ngày giông bão khi vết thương của ông gặp thời tiết trái gió trở trời.
Bà nhớ nhất một lần ông Quế bất ngờ lên cơn kích động, túm chặt hai chân bà dốc ngược đầu xuống đất gầm lên: "Mày có muốn chết không?". Trong khoảnh khắc ngạt thở ấy, bằng sự bình tĩnh của một người vợ thấu hiểu bệnh tình của chồng và bằng tình mẫu tử thiêng liêng, bà dịu dàng vỗ về: "Anh ơi, bỏ em ra nào, để em còn sống nuôi con cho anh chứ". Nghe hai chữ "nuôi con", người thương binh bỗng đờ người ra, lý trí thức tỉnh, ông buông vợ ra rồi ôm đầu khóc.
Sự nhẫn nhịn, thương yêu và cả đức hy sinh đến tận cùng của bà Hà đã từng bước tạo nên phép màu giúp chồng phục hồi chức năng. Giờ đây, khi giông bão đã lùi xa, ông Quế đã tỉnh táo và hiền lành hơn rất nhiều, hằng ngày có thể phụ giúp vợ những công việc nhẹ nhàng, tĩnh tại. Niềm hạnh phúc lớn nhất của bà là hai người con trai khỏe mạnh, giống ông như đúc, hiện đều tiếp nối công việc của mẹ, công tác ngay tại Cơ sở để chăm sóc những đồng đội của cha mình.
Một câu chuyện khác không thể không nhắc đến là người "liệt sĩ sống" Đinh Công Truật (sinh năm 1950, trú tại xã Nho Quan). Trải qua trận càn khốc liệt năm 1973 tại Long An, ông bị thương sọ não nặng, nằm mê man bất tỉnh "mười phần chết chín". Với tỷ lệ thương tật 91%, ông bị liệt nửa người nhưng đã tạo nên kỳ tích nhờ ý chí sắt đácủa người thương binh “tàn nhưng không phế". Ông cắn răng chịu đau tập đứng, tập đi, tập viết bằng những ngón tay co quắp, thậm chí gồng mình tập leo núi Bái Đính để phục hồi chức năng.
Cảm phục ý chí phi thường ấy, cô nhân viên chăm sóc Trần Thị Tấm đã đem lòng yêu thương và kết tóc xe duyên cùng ông vào năm 1978. Đôi bàn tay của người thương binh nặng ấy sau đó đã cùng vợ đào ao nuôi cá, đóng gạch xây nhà, mưu sinh nuôi dạy con cái thành tài.
Suốt hơn 60 năm qua, Cơ sở điều dưỡng thương binh Nho Quan luôn là mái nhà chung ấm áp, nơi những vết thương thực thể của người lính được xoa dịu bằng tình yêu thương và sự tận tụy mỗi ngày. Ảnh: Ngọc Linh
Những câu chuyện tình yêu tại Cơ sở Điều dưỡng Thương binh Nho Quan quả thực đã vượt lên trên giới hạn của những mối nhân duyên thông thường. Đó không chỉ là nghĩa vợ chồng gắn bó, mà còn là sự đồng cảm sâu sắc của những con người từng bước ra từ năm tháng khốn khó, là lòng nhân hậu thiêng liêng của người phụ nữ dành cho những người lính đã dâng hiến một phần xương máu cho hòa bình.
Trong những năm khốn khó của đất nước, các bà, các cô - những thiếu nữ tuổi đôi mươi tràn đầy hoài bão đã chọn gánh vác cùng người thương binh phần thiệt thòi của cuộc đời. Các bà không chỉ chăm sóc những vết thương thể xác, mà đã tự nguyện trở thành người bạn đời, người xoa dịu những cơn đau giật xé lòng của vết thương nơi đầu não bằng tình yêu thương dịu dàng nhất.
Sự dũng cảm và đức hy sinh thầm lặng của những người vợ, người mẹ như bà Hiệp, bà Hà, bà Tấm chính là minh chứng sống động nhất cho đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa". Những trái ngọt hôm nay - khi những người con của các ông, các bà đều đã khôn lớn, trưởng thành, có người lại tiếp tục tiếp nối công việc của mẹ, công tác ngay tại Cơ sở để chăm sóc những đồng đội của cha mình - chính là câu trả lời viên mãn nhất cho sự hy sinh ấy. Họ đã cùng những người lính viết tiếp bài ca bất tử về sự sống, biến nơi từng chỉ có những tiếng thở dài và nỗi đau đơn độc thành những khoảng trời tràn ngập nắng ấm và tiếng cười, chứng minh cho sức mạnh kỳ diệu của lòng nhân ái trước mọi thử thách cuộc đời.