Những ngày này, không khí lao động tại khu vực cảng cá Ninh Cơ, xã Hải Thịnh có phần trầm lắng. Trên bến, nhiều con tàu vẫn neo mình. Một vài ngư dân đứng bên mạn thuyền, lặng lẽ tính toán chi phí cho chuyến đi biển sắp tới. Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh hiện có 1.384 tàu cá có chiều dài từ 6m trở lên, trong đó tàu có chiều dài từ 15m chiếm số lượng lớn. Đây là lực lượng chủ lực trong khai thác hải sản xa bờ. Giá nhiên liệu tăng cao đã và đang tạo ra sức ép không nhỏ đối với nghề khai thác thủy sản. Mỗi chuyến ra khơi giờ đây không chỉ là hành trình bám biển mà còn là bài toán kinh tế. Vì thế, nhiều chủ tàu phải cân nhắc kỹ trước khi quyết định vươn khơi sản xuất. Không chỉ nhiên liệu, nhiều loại vật tư như ngư lưới cụ, đá lạnh, lương thực, nước cũng tăng giá. Tổng chi phí cho mỗi chuyến đi biển tăng lên đáng kể.
Anh Phạm Văn Ban, thuyền trưởng tàu cá NĐ-92345.TS chuyên hoạt động dịch vụ nghề cá trên biển ở xã Minh Thái chia sẻ: "Trước đây mỗi chuyến đi biển thường có lãi. Nay chi phí tăng cao, mỗi ngày chi phí tăng so với trước từ 15-20 triệu đồng. Nếu không tính toán tốt, thu mua hiệu quả thì rất khó bù đắp. Có chuyến chỉ đủ trả tiền dầu và công lao động, thậm chí có nguy cơ thua lỗ…". Các tàu làm dịch vụ hậu cần là lực lượng đảm nhận việc thu mua hải sản và tiếp tế nhu yếu phẩm trên biển cũng chịu áp lực lớn. Do phải hoạt động liên tục, các tàu này khó cắt giảm chi phí. Anh Ban cho biết thêm, dù khó khăn nhưng các tàu hậu cần vẫn phải duy trì hoạt động. Bởi đã có hợp đồng thu mua và tiếp tế cho các tàu đánh bắt xa bờ. Để giảm chi phí, các tàu phải tính toán kỹ lộ trình, tiết kiệm tối đa nhiên liệu và điện năng. Những thiết bị không thực sự cần thiết đều được tắt.
Trước sức ép từ giá nhiên liệu, nhiều ngư dân đã chủ động thay đổi cách làm. Một số tàu giảm số chuyến ra khơi, số khác kéo dài thời gian đánh bắt để giảm chi phí đi lại. Anh Phạm Văn Tình, chủ tàu cá biển kiểm soát NĐ-92288.TS ở xã Hải Tiến cho biết, trước đây mỗi chuyến đi biển chỉ kéo dài khoảng 4 đến 5 ngày. Nay, tàu phải đi dài hơn từ 10 đến 15 ngày mới vào bờ. Trong quá trình khai thác, tàu hạn chế di chuyển. Các bạn thuyền thường xuyên trao đổi thông tin để xác định ngư trường có nhiều hải sản nhằm tiết kiệm dầu. Bên cạnh đó, mô hình liên kết với tàu dịch vụ hậu cần trên biển đang phát huy hiệu quả. Thay vì quay về bờ sau mỗi chuyến ngắn, nhiều tàu cá tổ chức bán sản phẩm ngay trên biển; đồng thời nhận tiếp nhiên liệu và nhu yếu phẩm để tiếp tục bám ngư trường. Anh Tình cho biết thêm, cách làm này giúp giảm đáng kể chi phí vận hành. Tàu cá không phải di chuyển nhiều. Thời gian khai thác được kéo dài. Thu nhập của lao động trên tàu cũng được bảo đảm hơn. Cũng theo anh Tình, việc liên kết sản xuất giúp ngư dân chia sẻ khó khăn với nhau. Các bạn thuyền đều đồng thuận, ai cũng hiểu rằng trong thời điểm này, tiết kiệm là yếu tố quyết định để duy trì nghề… Không chỉ thay đổi cách khai thác, nhiều chủ tàu còn siết chặt chi tiêu. Từ nhiên liệu đến đá lạnh, nước ngọt, thực phẩm đều được sử dụng tiết kiệm. Các khoản chi được tính toán kỹ lưỡng trước mỗi chuyến đi biển.
Ở góc độ quản lý, chính quyền địa phương và các ngành chức năng cũng đang vào cuộc tích cực. Đồng chí Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch UBND xã Hải Thịnh cho biết, xã đã chỉ đạo Phòng Kinh tế tăng cường kiểm tra, giám sát giá nhiên liệu trên địa bàn. Các lực lượng chức năng phối hợp chặt chẽ kiên quyết không để xảy ra tình trạng nâng giá, găm hàng; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn ngư dân điều chỉnh phương thức sản xuất. Việc tính toán lại số lượng lao động, thời gian khai thác được khuyến khích để tiết kiệm chi phí.
Đồng chí Nguyễn Thành Chung, Giám đốc Ban quản lý cảng cá tỉnh Ninh Bình cho rằng: Trước những khó khăn chung, ngành chức năng nên xem xét hỗ trợ bảo hiểm và tạo điều kiện cho ngư dân tiếp cận các chương trình đào tạo nghề; đồng thời, các ngân hàng nên khoanh, giãn nợ nhằm hỗ trợ, giảm áp lực cho ngư dân trong việc trả tiền gốc, lãi vay đầu tư phát triển nghề khai thác hải sản. Về lâu dài, các cấp, ngành, địa phương cần định hướng chuyển đổi một phần sang nuôi thủy sản, nuôi kết hợp hoặc làm dịch vụ hậu cần nghề cá. Đây là hướng đi nhằm giảm phụ thuộc vào nhiên liệu và tạo sinh kế bền vững cho người dân. Ngoài ra, việc tổ chức sản xuất theo tổ đội, tổ hợp tác, nghiệp đoàn nghề cá cũng được khuyến khích. Mô hình này giúp các tàu hỗ trợ nhau trong khai thác, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất. Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới có nhiều biến động, giá xăng, dầu trong nước chịu ảnh hưởng trực tiếp, Ngành Công thương đã chỉ đạo các đơn vị đầu mối đảm bảo nguồn cung. Các cửa hàng xăng dầu ký cam kết chấp hành nghiêm quy định nên nguồn cung cơ bản được đảm bảo.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, từ đầu năm 2026 đến hết tháng 3, tổng sản lượng khai thác toàn tỉnh ước đạt hơn 14 nghìn tấn, trong đó khai thác biển đạt 12.759 tấn. Việc giá xăng, dầu cao vẫn sẽ còn là thách thức lớn đối với ngư dân. Mỗi chuyến ra khơi giờ đây không chỉ cần kinh nghiệm mà còn cần sự tính toán cẩn trọng. Giữa khó khăn, điều đáng ghi nhận là tinh thần bám biển của ngư dân vẫn không thay đổi. Họ linh hoạt thích ứng, chủ động thay đổi cách làm để bám biển, giữ nghề, đồng thời góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo, phát triển kinh tế địa phương.