Trên sàn London, giá cà phê robusta kỳ hạn giao tháng 5/2026 tăng 35 USD (+0,98%) lên 3.603 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 7/2026 giá tăng 14 USD/tấn (+0,42%) lên 3.378 USD/tấn, kỳ hạn giao tháng 9/2026 giá tăng 22 USD/tấn (+0,67%) lên 3.297 USD/tấn. Các kỳ hạn khác giá đều tăng 25-28 USD/tấn.
Tương tự, trên sàn New York, giá cà phê arabica giao tháng 5/2026 tăng 3,65 US cent/pound (+1,21%) lên 305,85 US cent/pound. Giá cà phê giao tháng 7/2026 tăng 4,25 US cent/pound (+1,49%) lên 289,75 US cent/pound, kỳ hạn giao tháng 9/2026, giá tăng 4,2 US cent/pound (+1,52%) lên 280,4 US cent/pound. Các kỳ hạn khác giá cũng tăng 3,55-4,05 US cent/pound.Theo Barchart, giá cà phê tăng trong phiên giao dịch hôm thứ Ba, khi arabica chạm đỉnh 1 tuần. Giá cà phê được hỗ trợ khi đồng nội tệ real Brazil lên cao nhất 2,25 năm so với USD.
Đồng real Brazil mạnh hơn kéo giảm động lực bán hàng xuất khẩu từ nông dân cà phê Brazil.
Giá cà phê cũng được hỗ trợ khi eo biển Hormuz tiếp tục đóng cửa, gây gián đoạn nguồn cung cà phê toàn cầu. Việc đóng cửa eo biển khiến nguồn cung thắt chặt khi đẩy tăng cước vận tải toàn cầu, bảo hiểm, phân bón và chi phí nhiên liệu, đồng thời làm tăng chi phí đối với các nhà nhập khẩu và rang xay cà phê.
Theo hãng giao dịch I & M Smith, báo cáo từ quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê robusta lớn nhất thế giới là Việt Nam cho thấy, kết quả xuất khẩu 4 tháng đầu năm nay tăng 15,80% so với cùng kỳ năm trước lên tổng cộng 13,5 triệu bao.
Quốc gia sản xuất robusta lớn thứ 3 và xuất khẩu lớn thứ 4 ra thị trường tiêu dùng là Indonesia cũng công bố số liệu xuất khẩu robusta mới nhất. Theo đó, xuất khẩu cà phê từ Sumatra, khu vực sản xuất cà phê lớn nhất Indonesia, đạt 258.405 bao hoặc thấp hơn 67,97% so với cùng tháng năm trước, với tổng cộng 121.748 bao. Tuy nhiên, tổng xuất khẩu cà phê robusta lũy kế của quốc gia quần đảo này trong cả niên vụ từ tháng 4/2025 đến tháng 3/2026 được báo cáo đạt 1.442.981 bao, cao hơn 37,32% so với cùng kỳ năm trước, ở mức tổng cộng 5.309.318 bao.
Nguồn cung robusta toàn cầu được kỳ vọng sẽ cải thiện trong ngắn hạn, được hỗ trợ bởi sự phục hồi của vụ mùa 2025-2026 tại Việt Nam, trước các vụ thu hoạch giữa năm sắp tới tại Brazil, Indonesia và Uganda.
Thị trường tiêu thụ lớn nhất của Brazil đối với cà phê Conilon vẫn là thị trường nội địa của nước này, được ước tính khoảng 22 triệu bao mỗi năm. Thị trường này phụ thuộc lớn vào Conilon, dù có sự linh hoạt nhất định trong pha trộn với arabica chất lượng thấp hơn, cho phép các nhà rang xay phản ứng nhanh với biến động giá nội địa.
Sự tăng trưởng liên tục của sản lượng Conilon từ 14,30 triệu bao trong mùa hạn hán, với xuất khẩu 3,65 triệu bao trong năm đó, lên mức kỷ lục 27,50 triệu bao và 4,10 triệu bao xuất khẩu trong niên vụ tháng 4/2025 đến tháng 3/2026 vừa qua, được kỳ vọng ít nhất sẽ được duy trì trong vụ thu hoạch đang diễn ra.
Trong cuộc đua giành vị trí dẫn đầu, không loại trừ khả năng Brazil có thể vượt Việt Nam trở thành nhà sản xuất robusta lớn nhất trong vài năm tới.
Việt Nam hiện vẫn giữ vững vị trí số một về xuất khẩu robusta ra thị trường tiêu dùng với khoảng 24,60 triệu bao trong niên vụ 2025-2026. Trong khi đó, Indonesia, Uganda và Brazil cạnh tranh theo yếu tố mùa vụ và thời tiết cho vị trí thứ 2, thứ 3 và thứ 4 về thị phần xuất khẩu tới các thị trường tiêu dùng cà phê.
Thị trường cà phê robusta London đóng cửa ngày hôm qua do Vương quốc Anh nghỉ lễ Bank Holiday, khiến thị trường kỳ hạn arabica New York giao dịch đơn lẻ trong một phiên rút ngắn.
Tồn kho cà phê arabica chế biến ướt được chứng nhận lưu trữ tại Sở giao dịch New York giảm 3.198 bao trong ngày hôm qua, xuống còn 499.036 bao, trong đó 73,96% lượng tồn kho này được giữ tại châu Âu, tương đương 369.076 bao và 26,04% còn lại được giữ tại Mỹ, tương đương 129.960 bao.