“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Mở đầu câu chuyện bằng một câu thơ trong bài “Tây Tiến” của nhà thơ Phạm Tiến Duật: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, CCB Đào Trọng An, số nhà 6/36 đường Văn Cao, phường Nam Định khẳng định, thế hệ chúng tôi ai cũng vậy, khi Tổ quốc cần đều sẵn sàng ra trận.
Năm ấy, khi chưa tròn 20 tuổi, trong thời gian chờ phân việc sau khi tốt nghiệp Trường Trung cấp Thương nghiệp (Bộ Nội thương cũ), ông An viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Tháng 3/1972, ông chính thức nhận lệnh đi B, Đoàn 7142, thuộc Quân khu 3. Năm 1973, đơn vị ông tham gia đánh trận đầu tiên ở Cửa Việt (Quảng Trị).
Ông An nhớ lại trận chiến Cửa Việt: “Lúc ấy, đơn vị tôi toàn lính trẻ, chưa trực tiếp đánh nhau bao giờ nên “hăng máu” lắm, chỉ muốn cầm súng đánh giặc. Với tinh thần đó, chúng tôi nhanh chóng giải phóng Cửa Việt rồi tiếp tục hành quân vào Lăng Cô (Quảng Trị)”. Trong 2 năm (1973-1974), đơn vị của ông An chiến đấu tại Quảng Trị và thành phố Đà Nẵng. Ngày 12/4/1975, đơn vị nhận nhiệm vụ mới, tiến đánh Sài Gòn. Trên các tàu chiến của địch thu được ở Đà Nẵng, ông An cùng đồng chí, đồng đội thẳng tiến Sài Gòn. “Để bảo đảm bí mật hành quân, chúng tôi không thể cắm cờ trên mỗi chiếc tàu. Vì vậy, tàu liên tục bị bắn phá bởi cả pháo địch và… pháo ta, rất nguy hiểm”, ông An hồi nhớ. Ngày 25/4, ông An cùng đồng đội nhận lệnh đánh Trường Sĩ quan Thiết giáp (căn cứ Nước Trong), thuộc tỉnh Đồng Nai của Quân đội Việt Nam Cộng hoà. Đêm 25, Tiểu đoàn Trinh sát của đơn vị đi trước mở đường, ông An cùng những chiến sĩ khác bí mật bò qua các giao thông hào tiếp cận mục tiêu. Vào được bên trong căn cứ, các chiến sĩ nằm yên chờ hiệu lệnh tấn công là tiếng bộc phá nổ giòn.
“Ngày 26/4 là một ngày cực nóng của Sài Gòn, thậm chí tôi chưa bao giờ thấy có ngày nào nóng như thế. Trong các giao thông hào, chúng tôi nằm chờ hiệu lệnh tấn công, trên đầu, máy bay địch liên tục quần thảo. Khi tiếng bộc phá nổ, từ mọi hướng phục kích, bộ đội ta ào lên như vũ bão, đánh chiếm, làm chủ căn cứ Nước Trong chỉ trong 15-20 phút”, ông An kể tiếp.
Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ông An cùng các đồng chí, đồng đội tiến về Sài Gòn. Quá trình di chuyển, toàn đơn vị được lệnh chủ động phương tiện, hướng đi. Ngày 29/4, khi hành quân trong rừng cao su, đoạn ngã ba đường 15 Củ Chi, trung đội của ông An bị lạc, chỉ còn lại 4 người với vũ khí gồm: 1 súng chống tăng B40, 1 trung liên và 2 khẩu AK. Dưới sự chỉ huy của Trung đội trưởng Đào Trọng An, mục tiêu của họ là phải vượt qua được ngã ba đường 15. Quá trình di chuyển, một đồng chí phát hiện có xe tăng địch sắp đi qua. Trung đội trưởng Đào Trọng An ra lệnh, phải bắn xe tăng bằng mọi giá. Không chần chừ, họ dùng súng chống tăng bắn vào chiếc xe đi đầu. Đội hình xe tăng địch rối loạn, hoảng sợ quay đầu hoặc vứt xe bỏ chạy. Đêm 29/4, ông An cùng 3 đồng đội đã tìm được đơn vị. Sau khi hội quân, sáng 30/4, đơn vị ông cùng với nhiều cánh quân khác thẳng tiến đánh Dinh Độc Lập, bắt sống Tổng thống Dương Văn Minh.
“Trong đời tôi, khoảnh khắc chứng kiến lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập và sau đó là đồng loạt những tràng súng nổ mừng chiến thắng, tiếng hô vang của bộ đội ta: Mẹ ơi, Sài Gòn giải phóng rồi... trở thành một kỷ niệm không bao giờ quên. Những người lính chúng tôi khi ấy tự hào đã góp một phần công sức, máu xương để làm nên chiến thắng vẻ vang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thiêng liêng với Tổ quốc”, ông An xúc động kể.
“Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”
Trong 5 năm tham gia chiến đấu tại các chiến trường miền Nam, CCB Vũ Doanh Hùng, số nhà 18/186 đường Văn Cao, phường Nam Định không nhớ hết những trận đánh mà ông đã tham gia. Đặc biệt, từ năm 1971 trở đi, gần như ngày nào đơn vị ông cũng tham gia đánh trận.
Nhập ngũ tháng 4/1970 tại đơn vị C1, Tiểu đoàn 583, Sư đoàn 320B, sau 6 tháng huấn luyện, ông Hùng nhận lệnh đi B, Đoàn 2244, Tiểu đoàn 583. Tháng 1/1971, ông Hùng được bổ sung quân số vào Trung đoàn 209, Sư đoàn 7, có nhiệm vụ đánh Đoàn Đặc nhiệm 11 của Quân đội Việt Nam Cộng hòa ở Campuchia. Cuối năm 1972, đơn vị ông nhận nhiệm vụ mới, đánh Sư đoàn 18 của Nguỵ ở ngã 3 Hồng Tâm, tỉnh Bình Long (cũ), đánh Củ Chi rồi sau đó rút về đánh Bến Cát (tỉnh Phước Long cũ). Giữa những ngày trận mạc, tháng 10/1974, ông Hùng bất ngờ được Trung đoàn cử đi học ở Ban Quân giới phòng Hậu cần, Sư đoàn 7. Tuy nhiên, khi đến nơi, vừa được phát quần áo và thông báo nhiệm vụ cụ thể, xuống xưởng học cách sửa chữa vũ khí, ông Hùng ngay lập tức xin về đơn vị tiếp tục chiến đấu. “Bởi tôi xác định, nhiệm vụ của một người lính là trực tiếp ra trận địa. Tôi muốn được cầm súng để bảo vệ đất nước. Đối với tôi, “cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến chống quân thù” - ông Hùng chia sẻ.
Về đơn vị, ông Hùng cùng đồng chí, đồng đội tiếp tục tham gia các trận đánh ở Phước Long, Long Khánh và Xuân Lộc. Đầu tháng 4/1975, trận đánh bao vây Sư đoàn lính dù của Nguỵ quyền Sài Gòn ở Xuân Lộc để lại dấu ấn khó quên cho ông. “Trong trận chiến Xuân Lộc, đơn vị lính dù của Nguỵ lúc bấy giờ đã dùng những loại vũ khí tối tân nhất như bom đánh giãn không khí để chống trả lại các cuộc tấn công của quân ta. Đơn vị tôi khi ấy ở vào thế “mắc kẹt”, muốn tiến và lùi đều không được. Lương thực, đạn dược tiếp tế vào chiến địa đều hết sức khó khăn do bị địch bắn phá liên tục. Trong nhiều ngày chúng tôi phải ăn mít non cầm hơi. Sau hơn 1 tháng chiến đấu dũng cảm, kiên cường, các đơn vị chủ lực của ta đã giải phóng được Xuân Lộc. Tuy nhiên, Trung đoàn tôi cũng chịu thương vong rất lớn, hi sinh 300 người”, giọng ông Hùng trầm xuống, nghẹn ngào.
Đêm 29, rạng ngày 30/4, trước khi tiến về Sài Gòn, Trung đoàn tiếp tục đánh các điểm Trảng Bom và Hố Nai. Trên đường vào Sài Gòn, đơn vị liên tục gặp pháo kích, nhiều anh em, đồng chí, đồng đội của ông Hùng tiếp tục ngã xuống trước cửa ngõ Sài Gòn. Chiều 30/4, khi đơn vị vào đến Sài Gòn thì nghe tin Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng. “Sài Gòn lúc này như một ngày hội lớn, dân từ khắp nơi đổ ra đường ăn mừng, chào đón quân giải phóng. Từ khu vực Thảo Cầm Viên đến Dinh Độc Lập, các đoàn xe tăng xếp hàng dài, kín hết 2 bên đường. Niềm vui trong ngày đại thắng không có gì diễn tả hết được”, ông Hùng hồi nhớ.
Trở về sau những năm tháng lửa đạn, các CCB Đào Trọng An và Vũ Doanh Hùng đều để lại một phần máu thịt nơi chiến trường. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, họ luôn gương mẫu trong cuộc sống đời thường, tích cực tham gia công tác xã hội tại địa phương. Tri ân những chiến công, đóng góp của các CCB, Đảng, Nhà nước đã tặng thưởng 2 ông nhiều phần thưởng cao quý; qua đó khẳng định trách nhiệm, nghĩa tình của đất nước và toàn xã hội đối với các thế hệ cha anh đã không tiếc máu xương gìn giữ, bảo vệ đất nước.