Tờ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khẳng định việc lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm là cần thiết, phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, thực hiện đúng các Nghị quyết của Đảng. Đây cũng là một bước cụ thể hóa các quy định hiện hành của Hiến pháp và luật, khắc phục những hạn chế, bất cập trong quy trình bỏ phiếu tín nhiệm hiện nay.
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết trung ương 4) đã đặt ra yêu cầu cần "hướng dẫn để sớm thực hiện quy định việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn".
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định Quốc hội "bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn".
Tuy nhiên, trên thực tế, việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn chưa được thực hiện do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Một trong số các nguyên nhân được Thường vụ Quốc hội chỉ ra là do pháp luật chưa quy định rõ các căn cứ, cơ sở để các chủ thể có quyền có thể đề xuất việc bỏ phiếu tín nhiệm, chưa làm rõ mối liên hệ giữa việc đánh giá tín nhiệm cán bộ với việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ các chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; chưa tạo nên sự gắn kết giữa quy trình lấy phiếu tín nhiệm với bỏ phiếu tín nhiệm và phân biệt rõ tầm quan trọng của hai quy trình này.
Căn cứ vào yêu cầu của Nghị quyết trung ương 4, các quy định của Hiến pháp và luật, đồng thời để bảo đảm tính khả thi của việc lấy phiếu tín nhiệm, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị quy định về thẩm quyền và phạm vi những người được lấy phiếu tín nhiệm tương đối rộng.
Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm đối với 49 người, bao gồm Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, các thành viên khác của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các thành viên khác của Chính phủ; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Tổng Kiểm toán nhà nước.
Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm đối với 380 người, bao gồm các Phó Chủ tịch, Phó Chủ nhiệm và các ủy viên của Hội đồng, Ủy ban.
Ở địa phương, Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực Hội đồng nhân dân (2-3 người), Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân (2-4 người); Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các ủy viên của Ủy ban nhân dân (3-13 người).
Các Ban của Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm đối với các thành viên của ban mình, trừ Trưởng ban (gồm từ 2 đến 4 ban, mỗi ban có từ 5-15 người).
Kết quả lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân được sử dụng làm căn cứ để tiếp tục tiến hành việc bỏ phiếu tín nhiệm.
Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định phân cấp về thẩm quyền thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm cho Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và các Ban của Hội đồng nhân dân sẽ góp phần nâng cao tính khả thi của quy định này, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lấy phiếu tín nhiệm được tập trung và sát hơn đối với người được lấy phiếu tín nhiệm.
Bên cạnh việc áp dụng các biện pháp xử lý như bỏ phiếu tín nhiệm, miễn nhiệm, dự thảo Nghị quyết cũng quy định người mà năng lực, trình độ chưa tương xứng với vị trí, nhiệm vụ được giao cũng như không đạt sự tín nhiệm của đại biểu thì có thể tự nguyện từ chức. Quy định này sẽ góp phần bảo đảm thực hiện tốt hơn công tác quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ của Đảng và Nhà nước ta.
Theo chương trình của kỳ họp, nội dung của Dự thảo Nghị quyết sẽ được các đại biểu thảo luận ở tổ vào chiều ngày 29/10 tới đây.
Theo Chinhphu.vn