Dự thảo báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXII

Từ ngày 3/6, Báo Ninh Bình điện tử đăng tải Dự thảo báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXII để lấy ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Báo Ninh Bình điện tử xin trân trọng giới thiệu các nội dung của Dự thảo. Các ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân xin gửi về: Báo Ninh Bình, số 16, đường Tràng An, phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình hoặc Hộp thư điện tử: toasoanbnb2010@gmail.com.

XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH; PHÁT HUY DÂN CHỦ, SỨC MẠNH ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN; ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI; PHẤN ĐẤU NINH BÌNH TRỞ THÀNH TỈNH PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG

 

(Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXII)

 

Phần thứ nhất

KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XXI

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA NHIỆM KỲ 2015-2020

Năm năm qua, tình hình trong nước và quốc tế có những thuận lợi cơ bản song còn nhiều khó khăn, thách thức: Tình hình thế giới, khu vực và Biển Đông diễn biến phức tạp, khó lường; chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch có xu hướng quay trở lại, cạnh tranh địa chính trị giữa các nước lớn; dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến phức tạp. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện của Trung ương, Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh nêu cao tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo, phát huy dân chủ, nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, đạt được nhiều kết quả quan trọng, tương đối toàn diện trên các lĩnh vực; đã thực hiện đạt và vượt 13/15 mục tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, trong đó 12 mục tiêu hoàn thành vượt mức.

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp được nâng lên; hệ thống chính trị và khối đoàn kết toàn dân được củng cố vững mạnh. Kinh tế phát triển khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực; sản xuất công nghiệp tăng trưởng mạnh; các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển, phát huy tiềm năng, thế mạnh của du lịch; sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, phong trào xây dựng nông thôn mới và thu ngân sách đạt kết quả cao. Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện. Quốc phòng, quân sự địa phương được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác đối ngoại được quan tâm; công tác cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử, giải quyết khiếu nại, tố cáo có chuyển biến tích cực.

 

1. Kinh tế của tỉnh phát triển khá, vượt kế hoạch đề ra, quy mô nền kinh tế được mở rộng

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) theo giá so sánh năm 2010 tăng bình quân 8,03%/năm, vượt mục tiêu Đại hội (đạt 8%/năm), thuộc nhóm các tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực đồng bằng sông Hồng, cao hơn mức chung cả nước (bình quân 6,8%/năm). Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, theo hướng tăng tỷ trọng lĩnh vực công nghiệp(). Cơ cấu sản xuất trong nội bộ các ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm; bảo đảm phát triển theo hướng bền vững. Quy mô nền kinh tế được mở rộng, độ mở của nền kinh tế ngày càng lớn; tổng sản phẩm GRDP theo giá hiện hành đạt 64.465 tỷ đồng, gấp 1,68 lần so với năm 2015; GRDP bình quân đầu người đạt 64,8 triệu đồng (khoảng 2.780 USD/người), gấp 1,57 lần so với năm 2015, bằng 92,7% so với bình quân chung cả nước (khoảng 3.000 USD).

1.1. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng mạnh, tiểu thủ công nghiệp duy trì ổn định; các thành phần kinh tế có bước phát triển mới; công tác xây dựng đô thị và hạ tầng sản xuất được quan tâm đầu tư

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng mạnh; tốc độ tăng giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2010) toàn ngành bình quân đạt 22,03%/năm, vượt mục tiêu Đại hội (16,0%/năm). Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng mạnh như: Ô tô (tăng 56,5%/năm), camera module (tăng 23,6%/năm), kính nổi (tăng 38,7%/năm). Toàn tỉnh hiện có 75 làng nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển ổn định, doanh thu hằng năm đạt khoảng 1.500 tỷ đồng.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 12/8/2016 về cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường thu hút đầu tư trên địa bàn; tạo điều kiện để đẩy mạnh, thu hút đầu tư, phát triển mạnh kinh tế tư nhân. Số lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước và dự án đăng ký đầu tư vào tỉnh tăng mạnh. Trong 5 năm có 3.230 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, 189 doanh nghiệp giải thể; cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 130 dự án với số vốn đăng ký đạt 19.300 tỷ đồng(). Kinh tế tập thể, hợp tác xã phát triển cả về số lượng và chất lượng; đã hoàn thành việc chuyển đổi hợp tác xã, hoạt động với quy mô mở rộng, chất lượng và hiệu quả ngày càng nâng lên, góp phần phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới. Đến nay, toàn tỉnh có 390 hợp tác xã, 433 tổ hợp tác; tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp, quỹ tín dụng nhân dân; doanh thu năm 2019 của các hợp tác xã đạt 5.038 tỷ đồng.

Công tác phát triển và quản lý đô thị đã tập trung xây dựng và triển khai quy hoạch xây dựng, quy hoạch khu chức năng, các khu đô thị, khu dân cư, tạo không gian phát triển kinh tế - xã hội. Tập trung phát triển thành phố Ninh Bình với nền tảng xây dựng các tiêu chí đô thị loại I theo Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 31/10/2017 của Tỉnh ủy, hướng tới đô thị xanh, an toàn, hiện đại, xứng tầm là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh. Xây dựng thành phố Tam Điệp hướng tới trở thành đô thị loại II; phát triển đồng bộ về kết cấu hạ tầng các thị trấn, trung tâm huyện lỵ. Tỷ lệ đô thị hóa năm 2020 của toàn tỉnh ước đạt 24,5%.

Công tác xây dựng, quản lý quy hoạch, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường. Tập trung vào hoàn thiện cơ sở hạ tầng, thu hút các dự án đầu tư vào 5/7 khu công nghiệp trong quy hoạch, hiện 5/7 khu công nghiệp đang hoạt động có tỷ lệ lấp đầy 100%; một số khu công nghiệp đang tiếp tục điều chỉnh, mở rộng để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Hiện có 113 dự án đầu tư đang hoạt động (trong đó có 02 dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp), với số vốn đăng ký 61.207 tỷ đồng. Năm 2019 các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp có giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 60.000 tỷ đồng, gấp 3 lần so với năm 2015; giải quyết việc làm cho 42.729 lao động; nộp ngân sách đạt 9.771 tỷ đồng, gấp 9 lần so với năm 2015.

Thành lập thêm 9 cụm công nghiệp với tổng diện tích 371,36 ha, nâng tổng số cụm công nghiệp toàn tỉnh lên 17 cụm với diện tích 602,81 ha; hiện có 5/17 cụm công nghiệp (Cầu Yên, Ninh Phong, Yên Ninh, Gia Vân, Sơn Lai) có tỷ lệ lấp đầy 100%. Trong giai đoạn 2016-2020 đã thu hút 27 dự án đầu tư (trong đó có 22 dự án FDI), với số vốn đăng ký 6.072,4 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 24.466 lao động. Nâng tổng số dự án đầu tư sản xuất kinh doanh tại các cụm công nghiệp lên 81 dự án, với số vốn đăng ký 12.176 tỷ đồng, doanh thu giai đoạn 2016-2020 ước đạt 26.750 tỷ đồng, nộp ngân sách 386 tỷ đồng...

1.2. Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển, du lịch có nhiều chuyển biến về chất lượng hướng tới ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh

Tốc độ tăng trưởng các ngành dịch vụ đạt 6,92%/năm, vượt mục tiêu Đại hội (bình quân 6,5%/năm). Du lịch được tập trung chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả, phát triển khá, từng bước khẳng định vị trí và thương hiệu du lịch Ninh Bình trong nước và quốc tế, dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.Hình thành thêm các sản phẩm du lịch mới, chất lượng dịch vụ nâng lên, đã góp phần tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân, nhất là lao động khu vực nông thôn. Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch được cải thiện; hết năm 2019, toàn tỉnh có 653 cơ sở lưu trú (tăng 54% so với năm 2016) với 7.935 phòng nghỉ (tăng 36% so với năm 2016); trong đó có 15 khách sạn đạt tiêu chuẩn 3-4 sao. Số lượt khách du lịch đến tham quan và doanh thu du lịch tăng lên; năm 2019 đón 7,65 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt 3.600 tỷ đồng.

Các hoạt động thương mại, lưu chuyển hàng hóa và kinh doanh dịch vụ phát triển ổn định; công tác quản lý thị trường được chú trọng, tập trung đấu tranh phòng chống gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 41.000 tỷ đồng, bình quân tăng 8,1%/năm. Hoạt động xuất khẩu tăng trưởng mạnh, năm 2020 tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 2.200 triệu USD, tăng bình quân 17,8%/năm, vượt 46,7% so với mục tiêu Đại hội (1.500 triệu USD); các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là: Camera module, linh kiện điện thoại, điện tử 1.150 triệu USD, vật liệu xây dựng (chủ yếu là xi măng - clinker) 350 triệu USD, giày dép 352 triệu USD, may mặc 274 triệu USD. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3.000 triệu USD, tăng bình quân 29%/năm.

Dịch vụ tài chính, ngân hàng phát triển ổn định. Trong nhiệm kỳ có thêm 06 chi nhánh ngân hàng mới được thành lập, nâng tổng số chi nhánh ngân hàng thương mại đang hoạt động trên địa bàn toàn tỉnh lên 18 chi nhánh. Hoạt động dịch vụ ngân hàng đã bám sát định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh để vận hành, lưu thông dòng tiền đáp ứng tốt nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh và hỗ trợ tiêu dùng trong nhân dân. Hệ thống dịch vụ bảo hiểm tiếp tục phát triển, tăng cường quản lý, phát huy hiệu quả xã hội.

Chất lượng dịch vụ vận tải được nâng lên, các đơn vị đã tích cực đầu tư đổi mới phương tiện nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, cơ bản đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa; công tác quản lý vận tải, phương tiện, người lái đi vào nền nếp. Dịch vụ bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển, chú trọng triển khai đồng bộ các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin và cung cấp dịch vụ công trực tuyến; đặc biệt, việc ứng dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành dùng chung của tỉnh (VNPT-iOffice) được đưa vào triển khai tại các cơ quan đảng, đoàn thể và toàn bộ 27/27 cơ quan hành chính nhà nước đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng chính quyền điện tử, đô thị thông minh, tuyên truyền thông tin chính trị, kinh tế và xây dựng đời sống mới. Mạng lưới viễn thông từng bước mở rộng và hiện đại hóa, toàn tỉnh hiện có 2.010 trạm thu phát sóng di động BTS; 100% các xã, phường, thị trấn và trường học sử dụng Internet tốc độ cao.

1.3. Nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển khá toàn diện và ổn định theo hướng sản xuất hàng hóa, bền vững; chương trình xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả tích cực

Sản xuất nông nghiệp được tập trung phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng và giá trị, hình thức sản xuất tiên tiến, bền vững; nâng cao giá trị sản xuất vùng ven biển, vùng đồi núi và vùng đất trũng. Tốc độ tăng giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2010) toàn khu vực bình quân giai đoạn 2015-2020 ước đạt 2,02%/năm(), hoàn thành mục tiêu Đại hội (bình quân 2,0%/năm). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đê điều, hệ thống thủy lợi, trạm bơm, hạ tầng trong nông nghiệp) được củng cố, tăng cường. Tỉnh đã đánh giá và xếp hạng 10 sản phẩm hạng 4 sao và 2 sản phẩm hạng 3 sao tham gia chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP).

Trồng trọt phát triển ổn định; năng suất và chất lượng lúa hằng năm tăng lên, diện tích các giống lúa đặc sản, lúa chất lượng cao tiếp tục mở rộng, an ninh lương thực được đảm bảo. Năm 2020, diện tích lúa đặc sản, chất lượng cao đạt 70% tổng diện tích cây lúa (tăng 27,6% so với năm 2015); năng suất lúa bình quân đạt 60,8 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với năm 2015; giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác đạt 135 triệu đồng/ha, tăng 27 triệu đồng so với năm 2015, vượt 3,9% so với mục tiêu Đại hội (130 triệu đồng/ha), bình quân tăng 4,5%/năm.

Chăn nuôi phát triển theo hướng hàng hóa với quy mô phù hợp; từng bước áp dụng hình thức gia trại, trang trại hiện đại, quy mô lớn hiệu quả. Toàn tỉnh hiện có 201 trang trại chăn nuôi, tăng 47% so với năm 2015; trong đó, một số trang trại đã ứng dụng công nghệ thông tin và tự động hóa vào sản xuất và quản lý mang lại hiệu quả cao; đã hình thành các vùng, cơ sở chăn nuôi tập trung, quy mô lớn theo chuỗi giá trị. Thủy sản phát triển mạnh về diện tích, năng suất và giá trị; hình thành các vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao, nuôi thâm canh, hiệu quả cao.

Năm 2020, diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 13.920 ha, tăng gần 3.000 ha so với năm 2015, trong đó diện tích nuôi thủy sản nước ngọt 10.420 ha, nước mặn lợ khoảng 3.500 ha. Tổng sản lượng thủy, hải sản ước đạt 60.700 tấn, tăng 18.900 tấn so với năm 2015; phương tiện khai thác thủy sản có sự phát triển đã đem lại hiệu quả tích cực. Sản xuất lâm nghiệp duy trì ổn định, đã thường xuyên thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên; đẩy mạnh chính sách khoán rừng, bảo vệ tốt diện tích các loại rừng.

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng và vượt cao so với mục tiêu Đại hội. Hết năm 2020, có 106/116 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bằng 91,4% tổng số xã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh; 03 huyện Hoa Lư, Yên Khánh, Gia Viễn đạt chuẩn huyện nông thôn mới và thành phố Tam Điệp hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; 03 xã và 103 thôn đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Những kết quả đó đã khẳng định, xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới kiểu mẫu trở thành phong trào thi đua sâu rộng, thực chất và hiệu quả.

Công tác phòng chống thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn được tập trung chỉ đạo, ứng phó, phòng chống, khống chế kịp thời; vượt qua nhiều thách thức như dịch bệnh Covid-19, trận lũ lịch sử năm 2017, dịch tả lợn châu Phi năm 2019, đảm bảo an toàn, tính mạng của người dân, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản của nhân dân, nhà nước và doanh nghiệp, góp phần ổn định và phát triển sản xuất.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Quyết định số 140-QĐ/TU ngày 01/3/2016 về phân công các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh phụ trách và các doanh nghiệp kết nghĩa với các xã có tính chất đặc thù. Quán triệt và thực hiện tốt phương châm "xã là chính, cơ quan, đơn vị phụ trách là quan trọng, doanh nghiệp kết nghĩa là cần thiết", các xã đặc thù đã nhận được sự giúp đỡ hiệu quả, toàn diện từ các cơ quan, doanh nghiệp với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, hiệu quả cao. Tổng kinh phí hỗ trợ đạt trên 52 tỷ đồng; góp thêm những nguồn lực để đến hết năm 2020 có 40/55 xã đặc thù đạt chuẩn xã nông thôn mới.

(Còn nữa)