Qua quá trình khảo cổ cho thấy các di tích tiền sử Tràng An có
những đặc thù riêng, cho phép chúng ta xác lập sự hiện diện của một văn hoá khảo cổ-văn hoá
Tràng An.
Văn hoá Tràng An là một văn hoá khảo cổ của một cộng đồng người
tồn tại liên tục trong nhiều thiên niên kỷ, cư trú trong các hang đá vôi, khai thác sản vật thung
lũng karst đầm lầy ven biển khép kín, sử dụng công cụ đá vôi chính, chế tác và sử dụng gốm thô văn
thừng đập, phát triển tương thích với biến động môi trường trước, trong và sau biển tiến holocene
trung, với 3 giai đoạn: Trước biển tiến (23.000-7.000 năm BP) mà vết tích văn hoá hiện còn ở hang
Trống, hang Bói, mái đá ông Hay, lớp dưới mái đá Chợ và lớp dưới hang Mòi. Giai đoạn biển tiến
(7.000-4.000 năm BP) có mái đá Vàng, hang ốc và lớp trên hang Mòi. Giai đoạn sau biển tiến
(4.000-2.500 năm BP) có các di tích: Hang núi Tướng 1-2, lớp trên mái đá Chợ và các di tích Thung
Bình.
Văn hoá Tràng An có đặc trưng khác với văn hoá khảo cổ đã biết ở
Việt Nam như: Văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đa Bút, văn hoá Quỳnh Văn, văn hoá Hạ Long, văn hoá Hoa Lộc
cả về không gian cư trú về chất liệu công cụ đá, kỹ thuật gia công công cụ, về loại hình công cụ
đá, về truyền thống chế tác và sử dụng đồ gốm, về đối tượng khai thác và chiến lược giải quyết calo
cho con người. Văn hoá Tràng An có sự giao thoa, tiếp xúc và diễn tiến văn hoá để bước từ nguyên
thuỷ sang văn minh ở một địa bàn hết sức đặc trưng của thung lũng karst lầy trũng. Truyền thống
khai thác nhuyễn thể, ở hang còn được lưu truyền cho tới những người Việt ở khu vực này.
Truyền thống định cư hang động lâu dài từ thời tiền sử cách đây
25.000 năm đến các chùa hang mà người Việt đang sử dụng, tại đây con người sống, khai thác nguồn
lợi tự nhiên trong karst nhiệt đới, gắn liền với những biến động địa chất mang tính toàn cầu (biển
tiến, biển thoái) gắn liền với những phát minh vĩ đại của nhân loại (kỹ thuật mài trong chế tác
công cụ, kỹ thuật làm đồ gốm, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi). Đây là một ví dụ điển hình về bước
tiến của văn hoá nhân loại ở vùng biển cổ Ninh Bình.
Địa tầng các di tích tiền sử Tràng An cho biết các giá trị văn hoá
tiền sử ở đây phát triển bền vững, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành
truyền thống. Theo thời gian, truyền thống ở đây không lập lại nguyên gốc mà do áp dụng kỹ thuật
mới hoặc các dạng thức hoạt động mới đã nảy sinh cái mới, cái mới lại được cách tân và gia nhập vào
truyền thống. Cứ như vậy, truyền thống và cách tân là 2 chiều ngang dọc "dệt nên bức tranh văn hoá
tiền sử", làm nên giá trị bền vững, tinh hoa của các cộng đồng tộc người ở vùng Tràng An, Ninh
Bình.
Các chứng tích văn hoá khảo cổ tiền sử ở Tràng An phong phú và đa
dạng là nguồn sử liệu vật thật minh chứng sự biến đổi đặc biệt về kinh tế, văn hoá, xã hội của cộng
đồng dân cư nơi đây dưới sự tác động thay đổi môi trường karst, biến động của cổ khí hậu, của mực
nước biển vùng nhiệt đới gió mùa. Đây cũng là các chứng tích điển hình cho loại hình cư trú liên
tục trong hang động trước, trong và sau biển tiến.
Truyền thống khai thác và sử dụng nhuyễn thể biển và trên cạn,
truyền thống săn bắt đa tạp, theo phổ rộng, săn bắt nhiều loại, mỗi loại một ít và không dẫn đến
huỷ diệt bày đàn động vật đó. Truyền thống chế tác và sử dụng công cụ đá vôi, sự nảy sinh kỹ thuật
mài, cưa và kỹ thuật làm đồ gốm và trồng trọt trong thung lũng đầm lầy là nét riêng độc đáo làm nên
giá trị nổi bật toàn cầu của quần thể các di tích khảo cổ nơi đây.
Có thể nghĩ rằng, hệ thống các di khảo cổ tiền sử hang động Tràng
An còn chứa đựng sự độc bản hoặc chí ít là chứng cứ đặc biệt về truyền thống văn hoá hoặc nền
văn minh hiện còn tồn tại hoặc đã mất của nhân loại.
Nguyễn Thơm